Chương 1: Giới thiê ̣u. Chương 2: Cơ sở lý thuyế t về ảnh hưởng rủi ro tài chính đến khả năng phá sản các ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực tra ̣ng rủi ro tài chính ảnh hưởng đến khả năng phá sản các ngân hàng thương mại Viê ̣t Nam. Chương 4: Phương pháp, dữ liê ̣u và kế t quả nghiên cứu.
Chương 5: Kế t luâ ̣n và các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tài chính và khả năng phá sản các ngân hàng thương mại Việt Nam.7 Ý nghiã khoa ho ̣c của đề tài nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra cơ sở khoa học về các loại rủi ro và ảnh hưởng của rủi ro tài chính đến khả năng phá sản của hệ thống ngân hàng. Từ đó các nhà điều hành ngân hàng có thể đưa ra những chính sách hợp lý nhằm giúp các ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh, hoạt động hiệu quả và đạt được sự ổn định trong quá trình hoạt động kinh doanh. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG RỦI RO TÀI CHÍNH ĐẾN KHẢ NĂNG PHÁ SẢN CÁC NGÂN HÀ NG THƯƠNG MẠI 2.1 Cơ sở lý thuyế t về khả năng phá sản của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Khả năng phá sản của các doanh nghiệp xảy ra khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khi nợ phải trả vượt quá tài sản hoặc tải sản ròng âm (Shelagh Heffernan, 2005). Tuy nhiên quan điểm trên cần được xem xét cẩn thận khi áp dụng cho ngân hàng thương mại vì các NHTM có những đặc điểm khác biệt so với các đơn vị kinh tế khác trong nền kinh tế.
Các điểm khác biệt có thể kể đến như: - Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính-tiền tệ, đây là lĩnh vực đặc biệt, nhạy cảm và tác động trực tiếp đến mọi hoạt động trong nền kinh tế. Chính vì thế Chính phủ luôn kiểm soát chặt chẽ hoạt động của ngân hàng nhằm ổn định hệ thống tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng xảy ra. - Hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào lòng tin và mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Một khi khi lòng tin của của khách hàng đối với NHTM suy giảm thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong việc huy động vốn, cung cấp tín dụng và các dịch vụ khác.
- Hoạt động kinh doanh của các NHTM có thể xuất hiện nhiều rủi ro và chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau. Khi một ngân hàng mất khả năng thanh toán thì sẽ tạo ra tác động lan truyền đến các NHTM khác. Với những sự khác biệt trên, nên khi xét riêng về lĩnh vực ngân hàng, Logan (2001) và Shelagh Heffernan (2005) đều có chung quan điểm và đưa ra khái niệm về khả năng phá sản ngân hàng thương mại là: 5 “Khi ngân hàng mất khả năng thanh khoản, bị sáp nhập hoặc bị mua lại bởi một ngân hàng lớn khỏe mạnh, được sự kiểm soát của chính phủ hoặc ngân hàng đó phải nhận sự cứu trợ từ ngân hàng trung ương” Có nhiều ý kiến xung quanh quan điểm này. Một số ý kiến cho rằng việc phá sản của ngân hàng giống như việc phá sản các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác.
Một số khác lại cho rằng việc phá sản ngân hàng là biện minh cho hành động bảo vệ hệ thống ngân hàng của chính phủ trước những tác động xấu đến nền kinh tế. Bằng những sự can thiệp như: bảo hiểm tiền gửi và một số hành động khác mà các ngân hàng có thể được chính phủ bảo vệ, hoặc các ngân hàng yếu sẽ được sáp nhập vào các ngân hàng mạnh hơn. Vấn đề này vẫn được các nhà kinh tế tiếp tục tranh luận vì nó phản ánh các chính sách khác nhau của các quốc gia trên thế giới. Tại Nhật Bản và Châu Âu đồng ý với quan điểm nên giải cứu và sáp nhập các ngân hàng yếu kém vào các ngân hàng mạnh.
Tại Anh, hầu hết các ngân hàng nhỏ đều được giải cứu. Tại Mỹ, trước đây không có xu hướng giải cứu các ngân hàng lớn, nhưng kể từ năm 1991, pháp luật đã yêu cầu các nhà chức trách chấp nhận đưa ra một số khoản chi nhỏ để giải quyết các ngân hàng bị phá sản. Các ngân hàng yếu kém sẽ bị đóng cửa, thậm chí các ngân hàng lớn sẽ tham gia tiếp quản và giải quyết các vấn đề mà ngân hàng yếu kém gặp phải (Shelagh Heffernan, 2005). Như vậy, có thể kết luận rằng có ba cách để đối phó với vấn đề phá sản ngân hàng: thứ nhất để cho ngân hàng bị tiếp quản và thanh lý, bán đi tài sản và đảm bảo việc chi trả cho khách hàng; thứ hai là sáp nhập ngân hàng yếu kém với ngân hàng mạnh; thứ ba là chính phủ can thiệp vào để hỗ trợ các khoản cho vay, bảo lãnh các khoản tài sản xấu hoặc thậm chí là quốc hữu hóa ngân hàng.2 Các dấu hiệu cho thấy ngân hàng có khả năng phá sản Một số dấu hiệu cho thấy ngân hàng có khả năng phá sản có thể kể đến như: - Ngân hàng không đạt được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio - CAR ) theo quy định: 6 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là thước đo độ an toàn vốn và phản ánh năng lực tài chính của các ngân hàng.
Đây là một chỉ tiêu quan trọng, được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II)/(Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)]*100% Chỉ tiêu này được dùng để xác định khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành. Tỷ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Hệ số an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng phải đạt 8%, theo tiêu chuẩn của Basel I do Ủy ban giám sát các ngân hàng Basel ban hành (NHNN, 2011).
- Tỷ lệ nợ xấu tăng cao: Tỷ lệ nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng dùng để đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Tỷ lệ nợ xấu càng cao cho thấy ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng càng lớn (Delis, 2011). Khi rủi ro tín dụng càng lớn, nguy cơ khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng cao, dẫn tới ngân hàng có khả năng mất vốn, sụt giảm doanh thu. Vốn bị âm và lợi nhuận sụt giảm sẽ khiến ngân hàng lâm vào trạng tài chính khó khăn.
- Lợi nhuận ngân hàng sụt giảm: Lợi nhuận ngân hàng sụt giảm trong nhiều năm liền, số lỗ lũy kế lớn hơn nhiều so với tổng số vốn điều lệ thực có và các quỹ. Lợi nhuận của ngân hàng sụt giảm có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân: sự gia tăng của các khoản nợ xấu khiến ngân hàng phải tăng cường chi phí dự phòng, không thu được nợ và lãi vay làm thu nhập lãi thuần suy giảm hoặc biến động lãi suất cũng làm cho thu nhập lãi thuần sụt giảm. - Ngân hàng mất khả năng chi trả: Ngân hàng mất khả năng chi trả khi không thể đảm bảo tỷ lệ tối thiểu giữa tổng tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và tổng tài sản “Nợ” phải thanh toán ngay đối với 7 các nhu cầu thanh toán hiện tại của khách hàng. Khi ngân hàng mất khả năng chi trả, tin đồn lập tức sẽ lan rộng ra và tạo hiệu ứng dây chuyền, từ đó khả năng phá sản của ngân hàng sẽ tăng cao.3 Nguyên nhân dẫn đến khả năng phá sản ngân hàng thương mại Theo Shelagh Heffernan (2005), có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới khả năng phá sản của các NHTM.
Những nguyên nhân này có thể tác động riêng biệt hoặc đôi khi cùng nhau tác động. Một số nguyên nhân có thể kể đến như: - Quản lý tài sản thiếu hiệu quả sẽ dẫn đến gia tăng danh mục các khoản nợ xấu. Việc cho vay quá nhiều trong một hoặc nhiều lĩnh vực, cộng với việc thiếu kiểm soát mặc dù các nhà quản lý có thiết lập các giới hạn an toàn. Tuy nhiên, khi các giới hạn bị phá vỡ, các nhà quản lý có thể không biết hoặc không phản ứng kịp từ đó dẫn tới sự bùng nổ các khoản nợ xấu.
Nợ xấu làm gia tăng các khoản chi phí dự phòng, sụt giảm lợi nhuận và sau đó đưa ngân hàng đến bờ vực phá sản do mất khả năng thanh toán. - Quản trị thanh khoản kém hiệu quả, dẫn tới thiếu hụt thanh khoản, ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán cho các nhu cầu vốn của khách hàng và đứng trước bờ vực phá sản khi thiếu hụt thanh khoản trầm trọng. - Kỹ năng quản lý kém của các các nhà quản lý trong ngân hàng là một yếu tố quan trọng trong các trường hợp dẫn đến phá sản. Một số trường hợp phá sản có nguyên nhân đến từ là việc quản lý kém của các quan chức nhà nước hoạt động trong các ngân hàng được chính phủ nắm giữ cổ phần.
- Hành vi gian lận của các nhân viên trong ngân hàng. Ví dụ như một số cán bộ quản lý có thể thu hút khách hàng bằng cách đưa ra lãi suất huy động cao, qua đó góp phần vào lợi nhuận ngắn hạn nhưng điều đó lại có tác động xấu đến ngân hàng. - Cơ quan quản lý hỗ trợ cho các ngân hàng vượt qua các điều khoản kiểm soát từ đó dẫn tới nguy cơ phá sản. Ví dụ như các công ty kiểm toán được thuê bởi các ngân hàng đã cố tình che giấu một vài con số không an toàn để vượt qua các quy định 8 trong hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên điều này lại làm nguy hại đến sự an toàn của ngân hàng, từ đó dẫn tới khả năng phá sản của ngân hàng. - Quy mô quá lớn để sụp đổ: các nhà quản lý ngân hàng tin rằng ngân hàng của mình sẽ nhận được sự bảo trợ từ phía ngân hàng trung ương, sẽ được giải cứu trong tình huống khó khăn nhất. Vì thế các nhà quản lý ngân hàng có động cơ để mở rộng hoạt động kinh doanh, nới lỏng các tiêu chuẩn an toàn nhằm đạt được lơi nhuận tối đa,…Những điều đó đã ảnh hưởng đến sức khỏe của các ngân hàng và gây ra những mối nguy hiểm không thể lường trước được, đặc biệt là khả năng phá sản nếu như họ không nhận được sự bảo trợ.