CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HÓI CỦANGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐÈ c ơ BẢN TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các khái niêm cơ bản Ngoại hối (The Foreign Exchange) bao gồm các phương tiện thanh toán được sử dụng trong thanh toán quốc tế bao gồm: Ngoại tệ (là đồng tiền nước ngoài); giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế; đồng tiền quốc gia trong trường hợp được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Trong thực tế ngoại hối chỉ gồm các đồng tiền khác nhau, vàng tiêu chuẩn quốc tế.
Tuy nhiên vai trò tiền tệ của vàng giảm đáng kể nên ngoại hối được hiểu là ngoại tệ. Thị trường Ngoại hối (The Foreign Exchange Market) được viết tắt là FOREX hoặc FX: là nơi diễn ra việc mua, bán các đồng tiền khác nhau. Trong thực tế do hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng (chiếm khoảng 85% tổng doanh số giao dịch) chính vì thế mà thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng tức là thị trường liên ngân hàng (LNH) (Interbank). Tỷ giá: Là giá cả của 1 đồng tiền được biểu hiện thông qua đồng tiền khác VD: 1USD= 21.000 VND Ký hiệu tỷ giá: E- Exchange: ký hiệu chung S-Spot: tỷ giá giao ngay F- Forward: tỷ giá kỳ hạn 5 X- exercise: tỷ giá quyền chọn Đồng tiền yết giá (commodity currency- ký hiệu là C): là đồng tiền có số đơn vị cố định và bằng 1 đơn vị Đồng tiền định giá (Terms Currency- ký hiệu là T): là đồng tiền có sổ đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường VD: 1 USD= 21.000VND thì USD là đồng tiền yết giá, VND là đồng tiền định giá GBP= 1.500 USD thì GBP là đồng tiền yết gịá và USD là đồng tiền định giá 1.
Đặc điểm thị trường ngoại hối - Không nhất thiết phải tập trung tại ví trí địa lý hữu hình, mà là bất kỳ đâu diễn ra các hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau hay nó còn được gọi là thị trường không gian. - Đây là thị trường toàn cầu giao dịch 24/24 - Trung tâm của thị trường ngoại hối là Thị trường Liên ngân hàng - Nhóm các thành viên tham gia thị trường duy trì quan hệ liên tục qua điện thoại, mạng vi tính, telex và fax. - Do thị trường toàn cầu, thông tin cân xứng, khối lượng giao dịch cực lớn, công nghệ hoàn hảo, hàng hóa đồng chất (không có rủi ro về bản thận hàng hóa), dẫn đến chi phí giao dịch rất thấp và hoạt động của thị trường trở nên hiệu quả. Điều này được thể hiện ở chỗ các tỷ giá niêm yết trên các thị trường hầu như thống nhất với nhau, nghĩa là mức chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường là không đáng kể.
- Đây là thị trường rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội tâm lý. nhất là các chính sách tiền tệ của các nước phát triển. Các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối - Nghiệp vụ giao ngay (The Spot Operations):Là giao dịch mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay được xác định tại thời điểm 6 giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán. Trong đó có 2 loại giao dịch “today” và “tom” với ngày giá trị trùng (today) hoặc sau 1 ngày (tom) so với ngày giao dịch - Nghiệp vụ kỳ hạn (The Forward Operations): Là giao dịch Maritime Bank và Khách hàng cam kết sẽ mua hoặc sẽ bán một số lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào thời điểm xác định trong tương lai.
-Nghiệp vụ tu’O’ng lai (The Currency JFutures):Là giao dịch kỳ hạn được giao dịch tập trung trên sàn giao dịch quốc tế và được chuẩn hóa theo quy định của từng sàn giao dịch - Nghiệp vụ hoán đổi (The Swap Operations): Là giao dịch đồng thời mua vào và bán ra 1 lượng giá trị nhất định (đồng tiền, tỷ giá, lãi suất, trái phiếu, cổ phiếu^ nợ,.) trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch là khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết họp đồng - Nghiệp vụ quyền chọn (The Currency Options):Là giao dịch cho phép người mua có quyền không phải nghĩa vụ, thực hiện hoặc không thực hiện quyền mua hoặc bán với người bán quyền tại một mức giá xác định một lượng tiền tệ trong khoảng thời gian thỏa thuận trước, Nếu bên mua quyền chọn thực hiện quyền của mình bên bán quyền chọn có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá đã thỏa thuận trước. Giao dịch bao gồm mua, bán và thực hiện quyền chọn. - Giao dịch hoán đổi lãi suất tiền tệ chéo (Cross Currency Swap):Là giao dịch mà 2 bên thoả thuận trong đó mỗi bên sẽ gửi cho bên kia một loại tiền và nhận một loại tiền khác với cùng kỳ hạn và cùng giá trị giao dịch trên cơ sở quy đổi tỷ giá (giá trị của giao dịch gửi tiền và nhận tiền là tưong đưong nhau trên cơ sở giá trị quy đổi của tiền tệ), lãi suất của từng đồng tiền được các bên xác định đầu kỳ và duy trì trong suốt thời gian của hợp đồng. Tiền lãi 7 của giấo dịch sẽ được các bên trả cho nhau căn cứ vào kỳ hạn và lãi suất của đồng tiền mà mỗi bên đã nhận 1.
Hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại - Dịch vụ mua bán hộ khách hàngĩViệc mua bán diễn ra đồng thời với số lượng bằng nhau nên ngân hàng không cần bỏ vốn, không chịu rủi ro tỷ giá, thu nhập của ngân hàng là chênh lệch giá mua và giá bán. Chênh lệch tỷ giá bán - tỷ giá mua gọi là Spread: VD: E(USD/VND) = 20.990= 40 VND tức 40 điểm - Đầu cơ tỷ giá: Là hành vi mua vào (giao ngay hoặc kỳ hạn) mà chưa bán ra hoặc bán ra (giao ngay hoặc kỳ hạn) mà chưa mua vào nghĩa là việc mua và bán diễn ra tại 2 thời điểm khác nhau nhằm ăn chênh lệch tỷ giá. Và ngân hàng phải chịu rủi ro tỷ giá và phải bỏ vốn kinh doanh. - Kinh doanh chềnh lệch tỷ giá: Là việc tại cùng 1 thời điểm mua vào ở nơi rẻ và bán ra ở nơi có giá cao hơn đe ăn chênh lệch giá.
Kinh doanh chênh lệch tỷ giá không hề chịu rủi ro tỷ giá và không phải bỏ vốn. - Kinh doanh tỷ giá chéo: Được sử dụng phục vụ việc kinh doanh các đồng tiền không phải là USD. RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI 1. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh ngoại hối Rủi ro nói chung là khả năng xảy ra tổn thất mất mát hoặc có hậu quả xấu.
Rủi ro đối với 1 ngân hàng bao gồm 4 loại rủi ro chính sau: - Rủi ro tín dụng - Rủi ro thanh khoản - Rủi ro thị trường - Rủi ro hoạt động Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối đối với 1 ngân hàng là mức độ 8 không chắc chắn liên quan tới các yếu tố trong hoạt động kinh doanh làm ảnh hưởng tới giá trị tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng. (207, Quản trị ngân hàng thưomg mại, Peter S.Rose) Các yếu tố trong hoạt động kinh doanh ngoại hối cụ thể là: đối tác kinh doanh (các khách hàng cá nhân, tổ chức trên thị trường 1, các định chế tài chính trên thị trường 2), các kênh thanh toán, các thao tác thực hiện giao dịch, vận hành hệ thống nội bộ; giá cả của tài sản mà ngân hàng nắm giữ. Với từng yếu tố này sẽ có những rủi ro liên quan là rủi ro đối tác, rủi ro thanh toán, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường. Nhận diện các loại rủi ro trong kinh doanh ngoại hối Cũng như các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng, kinh doanh ngoại hối bản thân nó cũng chửa đựng nhiều rủi ro, chủ yếu ở 3 loại rủi ro sau: - Rủi ro thị trường (tỷ giá, lãi suất) - Rủi ro tín dụng và thanh toán - Rủi ro hoạt động 1.
L R ủ i ro thị trư ờng Là rủi ro gây ảnh hưởng tới giá trị tài sản của ngân hàng do thay đổi giá các tài sản trên thị trường mà ngân hàng đang nắm giữ như tỷ giá, lãi suất, giá cả các loại chứng khoán, giấy tờ có giá và giá của các hàng hóa. Trong đó, đối với hoạt động kinh doanh ngoại hối, rủi ro tỷ giá hối đoái là rủi ro dễ nhận biết và ảnh hưởng mạnh mẽ tới lợi nhuận của ngân hàng. Vậy, rủi ro tỷ giá hối đoái là gì?ỡó chính là rủi ro khi có sự hiên động trong giá trị thị trường của các đồng tiền ngoại tệ làm ảnh hưởng tới giá trị thị trường của tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng. Lãi suất cũng là 1 yếu tố ảnh hưởng nhiều tới kết quả hoạt động kinh doanh ngoại hối.
Thứ nhất, lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ giá của các đồng tiền ngoại tệ trên thị trường, gây ra rủi ro về mặt tỷ giá. Thứ hai, 9 lãi suất biến động sẽ làm cho các khoản chi phí và thu nhập từ việc nắm giữ trạng thái ngoại tệ (âm hoặc dương) bị tác động. Khi tỷ giá trên thị trường được dự đoán là tương đối ổn định kết hợp với sự chênh lệch lãi suất giữa đồng nội tệ và ngoại tệ thì ngân hàng thường giữ trạng thái ngoại tệ âm hoặc dương để hưởng phần chênh lệch này. Ví du khi lãi suất đồng nội tệ cao hơn ngoại tệ ( thường lãi suất VND cao hơn nhiều so với các đồng ngoại tệ mạnh như USD, EUR, GBP),ngân hàng sẽ đi vay ngoại tệ với lãi suất thấp để bán ( giữ trạng thái âm về ngoại tệ) nhận VND về để cho vay với lãi suất cao hơn.
Nếu lãi suất của 2 đồng tiền này thay đổi làm thay đổi chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền đó thì nó sẽ ảnh hưởng tới thu nhập của ngân hàng. R ủ i ro tín dụng và thanh toán Rủi ro tín dụng và thanhtoán trên thị trường ngoại hối là các rủi ro liên quan tới đối tác trong quá trình thực hiện các nghĩa vụ của họp dồng đã ký kết. Trong đó rủi ro tín dụng là khả năng một bên giao dịch không thực hiện được đầy đủ nghĩa vụ hoàn trả đã thỏa thuận trước. Rủi ro thanh toán lại là rủi ro khi một bên không thực hiện được các điều khoản họp đồng đúng vào thời gian thanh toán đã quy định trước.