Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO NGÂN HÀNG 1. Quan điểm về an toàn hệ thống ngân hàng Các tổ chức quốc tế như IMF, WB, Ngân hàng Trung ương các nước, các nhà nghiên cứu hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về an toàn tài chính (Ngân hàng – Chứng khoán – Bảo hiểm) mà thường sử dụng các khái niệm như ổn định tài chính hay lành mạnh tài chính. Đây là trạng thái mà hệ thống tài chính có thể thực hiện được các chức năng của mình nhằm phân bổ nguồn tiết kiệm đến các cơ hội đầu tư có hiệu quả nhất, hỗ trợ trao đổi hàng hóa…một cách có hiệu quả, an toàn và bền vững. Trong trường hợp có những cú sốc thì hệ thống tài chính vẫn có khả năng chống đỡ các cú sốc đó và phục hồi ở mức độ cao để có thể thực hiện chức năng của mình mà không bị gián đoạn trong quá trình hoạt động.
Theo IMF (2013), Ổn định tài chính là khả năng của hệ thống tài chính trong việc: Nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực kinh tế cũng như hiệu quả của các tiến trình kinh tế khác (tích lũy của cải, tăng trưởng kinh tế, giải quyết phúc lợi xã hội); (ii) Đánh giá, quản lý các “rủi ro mang tính hệ thống”; (iii) Duy trì được năng lực thực hiện chức năng chính nêu trên ngay cả khi bị ảnh hưởng bởi cú sốc bên ngoài và/hoặc bởi sự hình thành những mất cân đối lớn trong nền kinh tế. Theo ECB (2013) định nghĩa ổn định tài chính là tổng hòa các điều kiện mà theo đó hệ thống tài chính, gồm các trung gian tài chính, thị trường và cơ sở hạ tầng của thị trường, có khả năng chịu được các cú sốc và giảm thiểu nguy cơ gây gián đoạn chu trình trung gian tài chính nhằm đảm bảo sự phân bổ nguồn lực một cách hợp lý tới các cơ hội đầu tư có khả năng sinh lời. Quan điểm về rủi ro hệ thống ngân hàng Theo IMF (2013), Rủi ro hệ thống là một rủi ro về sự đổ vỡ của các dịch vụ tài chính bắt nguồn từ sự suy yếu toàn bộ hoặc một phần của hệ thống tài chính và có khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế thực. Nhóm G101 định nghĩa rủi ro hệ thống là rủi ro gây ra tổn thất về giá trị và niềm tin, gia tăng bất ổn về một phần hoặc toàn bộ hệ thống tài chính, có thể gây tác động tiêu cực không nhỏ đến nền kinh tế thực.
Khi rủi ro hệ thống xảy ra (thường gắn liền với một sự kiện, ví dụ như sự sụp đổ của Lehman Brothers vào năm 2008), nó thường kéo theo tác động dây chuyền từ một định chế tài chính đến các định chế tài chính khác, được hiểu là rủi ro lan truyền (contagion risk). Việc xác định rủi ro hệ thống có vai trò hết sức quan trọng và nằm ngoài khả năng của chính sách an toàn vi mô (tập trung vào giám sát các định chế tài chính đơn lẻ). Sự an toàn của từng định chế tài chính không phải là điều kiện đủ để đảm bảo cho sự ổn định của hệ thống tài chính vì (i) việc tập trung vào các định chế cụ thể sẽ không thể bao quát tính liên kết với các lĩnh vực liên quan của nền kinh tế, (ii) một số quy định của chính sách an toàn vi mô có thể gián tiếp gây ra bất ổn tài chính. Việc ổn định tài chính và kiềm chế lạm phát không thể chỉ dựa vào chính sách tiền tệ hay giám sát tài chính đơn lẻ (Nicolò, 2012).
Rủi ro hệ thống tài chính (Ngân hàng – Chứng khoán – Bảo hiểm) là tình huống mà hệ thống tài chính không thể thực hiện được chức năng của mình một cách có hiệu quả và an toàn, bắt đầu có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thực. 1 Gồm bộ trưởng tài chính và Thống đốc của 10 quốc gia Belgium, Canada, France, Germany, Italy, Japan, The Netherlands, Sweden, Switzerland, the United Kingdom và the United States. Khủng hoảng tiền tệ là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng tiền nội tệ làm sự suy giảm mạnh nguồn dự trữ ngoại tệ và làm đồng tiền nội tệ mất giá nhanh chóng, buộc các cơ quan quản lý phải có các biện pháp phòng vệ bằng cách sử dụng một lượng dự trữ ngoại tệ lớn để bình ổn tỷ giá hoặc nâng mức lãi suất lên cao. Khủng hoảng tiền tệ có thể diễn ra cùng lúc hoặc kéo theo các dạng khủng hoảng khác.
Khủng hoảng ngân hàng liên quan đến khả năng thanh khoản (ngân hàng không còn đủ nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu rút tiền của chủ nợ hoặc người cho vay) và khả năng trả nợ của hệ thống ngân hàng (giá trị hiện tại của nợ lớn hơn giá trị hiện tại của tài sản) và hệ quả là ngân hàng có thể bị phá sản. Khủng hoảng nợ là tình trạng một quốc gia phải đề nghị thương thảo lại về các thỏa thuận vay nợ, hoãn trả lãi và vốn gốc do không có khả năng trả nợ nước ngoài, bao gồm cả các khoản nợ của Chính phủ hay của khu vực tư nhân. Hiện nay, có ít nhất hai hệ thống chỉ tiêu đo lường rủi ro của hệ thống tài chính, đó là Hệ thống chỉ tiêu của NHTW Châu Âu (European Central Bank- ECB) và Hệ thống chỉ tiêu của Ngân hàng phát triển Châu Á (Asian Development Bank- ADB). Trong đó, Hệ thống chỉ tiêu an toàn vĩ mô (macro prudential indicators – MPIs) của ECB được xây dựng bằng sự cộng tác của ECB với các NHTW và cơ quan quản lý ngân hàng của các nước trong khối nhằm tìm ra một hế thống các chỉ tiêu để đánh giá sự lành mạnh tài chính của khu vực ngân hàng.
Tuy rằng Hệ thống MPIs của ECB khá nhiều các chỉ số, trong đó bao gồm cả một số chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu đo lường sự lành mạnh tài chính (financial soundness indicators FSIs) của IMF, nhưng chủ yếu đánh giá vẫn tập trung vào sự lành mạnh tài chính của Hệ thống ngân hàng chung Châu Âu. Trong khi đó, ADB (2013) đã hợp tác cùng IMF, BIS, Deutsche Bundesbank, NHTW Nhật Bản, NHTW Hàn Quốc, Cục Thống kê Úc và Uỷ ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương để đưa ra một hệ thống chỉ tiêu giám sát thận trọng bao gồm 67 chỉ tiêu cơ bản và 43 chỉ tiêu phụ. Hệ thống chỉ tiêu này được chia làm bảy nhóm: (i) Nợ nước ngoài và dòng chu chuyển tài chính; (ii) Tiền tệ và Tín dụng, (iii) Ngân hàng; (iv) Lãi suất; (v) Thị trường chứng khoán và trái phiếu; (vi) Thương mại, Tỷ giá và Quỹ ngoại hối; (vii) Dữ liệu thống kê về kinh doanh (Khu vực sản xuất, xây dựng, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ). Như vậy, so với hệ thống chỉ tiêu thận trọng của ECB thì chỉ tiêu của ADB đã đánh giá gần như tất cả các mặt về sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia.1: Các chỉ tiêu đo lường rủi ro của hệ thống tài chính Nợ nước ngoài và dòng tài chính Hai chỉ số này có tử số lần lượt là lượng vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp với mẫu số là GDP danh nghĩa.
Kết cấu của các dòng tiền được coi là một nhân tố quan trọng trong một số khủng hoảng tiền tệ ở các nước mới nổi. Hai Tỷ trọng vốn đầu loại dòng tiền quan trọng là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tư trực tiếp (FDIs) tiếp. FDI là nguồn vốn đầu vào dài hạn làm tăng khả năng Tỷ trọng đầu tư sản xuất của đất nước và tạo ra thu nhập cần thiết để chi trả gián tiếp các dòng tiền ra trong tương lai, trong khi đầu tư gián tiếp được cho là sự đầu tư tạo ra khả năng sản xuất thấp. Các quốc gia có thể bị tổn thương nếu thâm hụt tài khoản vãng lai đồng thời với dòng vốn FDI thấp hoặc quá chú trọng vào đầu tư tạo ra khả năng sản xuất thấp.
Chỉ số này chỉ ra khả năng thanh toán của một đất nước, đặc Tổng nợ trên GDP biệt là khả năng trả nợ nước ngoài bằng thu nhập trong một danh nghĩa năm. Tiền tệ và tín dụng Chỉ số này được tính bằng nợ nội địa chia cho GDP danh nghĩa. Nếu chỉ số này cao có thể coi là một chỉ số tiềm ẩn về Tín dụng sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng. Chỉ số này thường tăng nội địa trong giai đoạn đầu của khủng hoảng ngân hàng, khi đó (% của GDP) NHTW có thể bơm tiền cho ngân hàng để hạn chế tình trạng tài chính yếu kém của họ.
Tốc độ tăng Chỉ số này đo lường tính thanh khoản. Chỉ số này càng cao trưởng cung tiền có thể cho thấy dư thừa thanh khoản dẫn đến khủng hoảng M2 tiền tệ. Chỉ số này có tỷ số là M2 và mẫu số là GDP danh nghĩa. Tỷ M2 (% của số này được sử dụng để đo lường độ sâu tài chính.
Nếu chỉ GDP) số này tăng lên (cùng với sự ổn định lạm phát) cho thấy hiệu quả trong việc chuyển từ tiền thành đầu ra. Một chỉ số gắn liền với tự do hoá tài chính. Sự gia tăng mạnh Số nhân tiền tệ của chỉ số này có thể giải thích bằng sự giảm mạnh yêu cầu (M2/money base) dự trữ (thường đi kèm với tự do hoá tài chính). Đo lường mức độ nợ của hệ thống ngân hàng được tài trợ bởi quỹ dự trữ ngoại hối.
Trong cuộc khủng hoảng tiền tệ, các cá Tỷ trọng M2 (% với nhân vội vã chuyển đổi tiền gửi bằng nội tệ thành tiền gửi dự trữ ngoại hối) ngoại tệ, vì thế chỉ số này cho biết khả năng của NHTW đáp ứng được nhu cầu đó. Tín dụng cho khu vực công trên Khả năng thanh toán của khu vực Công/ Nhà nước. GDP danh nghĩa Tính bằng vốn tự có chia cho tổng tài sản rủi ro, là chỉ số đo CAR- Hệ số an lường mức độ đầy đủ vốn của định chế tài chính. Xu hướng toàn vốn giảm chỉ số này có thể cho thấy rủi ro tăng lên và vấn đề trong nguồn vốn.
Chỉ số này tính bằng tỷ lệ giữa tín dụng NHTW và Vốn tự có Tín dụng của hoặc tổng nợ của định chế tài chính. Chỉ số này phản ánh tính NHTW cấp cho thanh khoản. Chỉ số này tăng lên phản ánh những vấn đề định chế tài chính thanh khoản và cả thanh toán trong khu vực tài chính. Khu vực ngân hàng Chỉ số này bằng thu nhập ròng chia cho tổng tài sản bình ROA quân, là một trong các chỉ số phổ biến nhất để đo lường khả năng sinh lời.