CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VÈ PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ NGHI LẺ TANG MA TAI THI XA DONG TRIEU, TINH QUANG NINH 1.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và tình hình Phật giáo tại xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 1.1] Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam Phật giáo là một trào lu triết học — tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 TCN ở bắc Án Độ. Ngời sáng lập ra hệ thống triết học - tôn giáo này là Tất Đạt Đa (Siddhatha) (khoảng 563 — 483 TCN), thái tử của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) thuộc bộ tộc Sakiya. VỊ thái tử này đã từng theo học các tu sĩ Bà La Môn từ năm lên bảy, kết hôn năm l6 tuổi, mời ba năm sau đó sống trong cuộc đời vơng giả, nhng trong một đêm tháng Hai năm vừa tròn 29 tuôi, đã lặng lẽ rời hoàng cung di tim chan lý. Trải qua sáu năm với những phơng pháp tu luyện ép xác nhng không đạt đợc chánh đạo, nhng chỉ sau 48 ngày nhập định, Tất Đạt Đa ngộ rõ căn nguyên sinh thành, biến hóa của vũ trụ, căn nguyên của những khổ đau, và đề ra phơng pháp diệt trừ nỗi khổ đó cho chúng sinh, bằng học thuyết “Nhân duyên sinh” và triết lý “Tứ điệu đế”, “Thập nhị nhân duyên”, “Bát chánh đạo”.
Con ngời này đã đa ông trở thành đức Phật Thích Ca đầy uy nghiêm tỉnh thần trong đời sống của ngời phơng Đông hết thế hệ này đến thế hệ khác. Giáo lý nhà Phật tuy có nhiều tông phái khác nhau, nhng tựu trung những điểm đợc đề cập sau đây vẫn là những nên tảng cơ bản. Thế giới, vũ trụ, theo quan niệm Phật giáo, là luôn vận động, biến đối, các biến đổi diễn ra nhanh nh chớp mắt, và thế giới thì không có trớc, không có sau, vô thủy, vô chung. Đó cũng chính là lẽ vô £hởng, tức không có gì là tồn tại cố định, mà có đó, mất đó.
Con ngời cũng thuộc dòng chảy không ngừng đó, nên không gì là bản thân ta cả, tức vô nga. Những biến đổi này, nói theo ngôn ngữ hiện đại, là do tự thân vận động, không xuất phát từ bên ngoài, mà từ lẽ nhân duyên, theo luật nhân quả, nghiệp bdo. Toy thuộc vào nghiệp báo mà biến đổi của các sinh linh diễn ra trong cõi phàm và siêu phàm, hoán chuyên từ cõi này sang cõi kia, đó là luân hồi. Nhân sinh quan Phật giáo xuất phát từ quan niệm cho rằng đời là bể khổ, và nguyên nhân của nó là sinh, lão, bệnh, tứ, là những ham muốn nhục dục, xuất phát từ sự che lấp trí tuệ bởi ngữ „ấn (sắc, thụ, tởng, hành, thức), làm cho ta cố chấp trong việc phân biệt cái ta va cái khác ta, dan đến thái độ “ngã chấp”, trọng cái ta, khiến con ngời ta vô zminh.
Muốn thoát khỏi bề khổ thì phải điệt dục, nhẫn nhục, từ bị, hỉ xả, hy sinh, đi theo con đờng của bát chánh đạo: chánh kiến, chánh t duy, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh mệnh, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định. Những giáo lý mang nặng tính triết lý, đạo đức này đã có một ảnh hởng sâu rộng lên phong tục, tập quán, văn hóa, văn minh của nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam ta. Đạo Phật đợc truyền ra ngoài biên giới rất sớm theo hai hớng chính: Một về phơng Nam, hình thành nên phái Nam Tông (Phật giáo Tiểu Thừa), một về phơng Bắc hình thành nên phái Bắc Tông (Phật giáo Đại Thừa). Tiểu Thừa hay Đại Thừa đợc coi nh những cỗ xe đa chúng sinh đến nơi thanh tịnh, đến giải thoát, nhng nếu Tiểu Thừa nh “cổ xe nhỏ”, ngụ ý chỉ chở một ngời thì Đại Thừa nh “cổ xe lớn”, ngụ ý chở nhiều ngời.
Tuy công năng của Phật giáo Tiểu Thừa và Phật giáo Đại Thừa có sự khác nhau nhng cả hai phái đều tôn trọng những t tong cơ bản về thế giới quan và nhân sinh quan của Phật Thích Ca Mâu Ni. Vào đầu công nguyên, Ấn Độ đã có đợc sự giao thơng mạnh mẽ với Trung Đông, và gián tiếp với vùng Địa Trung Hải, do đó họ cần có một nguồn cung cấp nguyên vật liệu, vật phẩm cho sự giao thơng này. Họ giong buồm, theo gió mùa tây nam mà đi về đông. Họ đến Giao Chỉ, rồi có thê từ Giao Chỉ mà lại theo tiếp đờng biển (đờng gia vị) hay đờng bộ (con đờng Tơ lụa qua thảo nguyên) vào trong nội địa Trung Hoa.
Trong khi đợi gió mùa đông bắc để quay về Ấn, sự lu trú của số thơng gia này đã lan truyền dần những nét văn hóa Ấn Độ, trong đó có việc thờ cúng Phật, tụng kinh. Những tăng sĩ mà các thơng nhân đem theo trên thuyền buôn nhằm làm công việc cầu khấn sự phù trợ của đức Phật, là những ngời đã trực tiếp truyền bá Phật học và lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Bắc Ninh). Du nhập vào nớc ta, Phật giáo đã dung hòa đợc với hệ t tởng, phong tục tập quán và tín ngỡng của dân tộc, vì vậy nó nhanh chóng tìm đợc chỗ đứng và có những ảnh hởng nhất định với đời sống văn hóa tỉnh thần nớc ta. Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) đợc phiên âm trực tiếp thành “Bụt” [16,27] từ đó chữ "Bụt" đợc dùng nhiều trong các truyện dân gian.
Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Phật giáo nam truyền đợc địa phơng hóa, Bụt đợc dân gian hóa coi nh một vị thần cứu giúp ngời tốt. Sau này, vào thế kỷ thứ IV — V, do ảnh hởng của Phật giáo nhà Hán, Trung Quốc mà từ “Bụt” bị thay thế dần bởi từ “Phật”. Trong tiếng Hán, từ Buddha đợc phiên âm thành “Phật đà”, “Phật đồ” rồi đợc rút gọn thành “Phật”. Vào thế kỷ II, sự thâm nhập của Phật giáo đã ở vào một giai đoạn mới, hình thành tăng đoàn, công việc hành đạo từ đó mà cũng đi vào tổ chức, các tăng sĩ bắt đầu dịch kinh, sáng tác, chùa chiền cũng đã đợc xây cất.
Ở thế kỷ này, sự hành đạo cũng gặp một ít trở ngại từ phía những ngời ủng hộ Khổng, Lão. Tuy nhiên, điều đó không thể ngăn cản đợc ảnh hởng của Phật giáo vì nó đã thâm nhập vào dân gian. Tỉnh thân hòa đồng giáo lý là nét nỗi bật trong sự du nhập và định hình Phật giáo Giao Châu trong thế kỷ thứ hai này. Phật giáo thâm nhập vào đây một cách êm thấm, không có sự chống đối của tín ngỡng dân gian.
Tuy Phật giáo cũng phải có một ít nỗ lực trớc giới cai trị Hán tộc, nhng không bằng sự phản kháng, mà bằng sự hòa đồng. Điều này xuất phát từ tinh thần cởi mở của Phật học, và Phật tử thì sẵn sàng học hỏi, đối thoại với những t tởng khác. Kết quả của tinh thần này là không những đã sử dụng đợc từ ngữ Nho, Lão đề truyền bá Phật giáo, mà còn làm cho nghững ngời theo Không, Lão thấy đợc chiều sâu của Phật học. Sang thế kỷ V — VI, lại có thêm luồng Phật giáo đại thừa Bắc Tông từ Trung Quốc tràn vào.
Vào thế kỷ thứ VI, nớc ta là một quốc gia có sự phát triển hng thịnh của Phật giáo. Từ Trung Hoa, có ba tông phái Phật giáo đợc truyền vào Việt Nam: Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông. Tuy nhiên, khi truyền vào nớc ta thì không có sự tách biệt rạch ròi, mà là sự tổng hợp các tông phái còng với phong tục tập quán, tín ngỡng bản địa, vì vậy không có tông phái nào là thuần khiết. Thiền Tông lấy thiền định làm pháp tu (tu thiền: yên lặng mà suy nghĩ) chủ trơng của Thiền Tông là không câu nệ vào sách vở mà chủ yếu dựa vào thiền định để giác ngộ Phật tính cho mình.
Thiền Tông quan niệm Phật tại tâm, Phật có ở mọi nơi, giáo lý của Thiền Tông gần gũi với chúng sinh, làm cho con ngời tin vào mình, tin vào công lao tu đỡng đề thành công trong công việc tiếp nhận chân lý. Ngoài ra, Thiền Tông còn có một số yếu tố khác dễ thu hút nhiều ngời theo nh lấy việc phục vụ xã hội làm điều kiện tu hành, chấp nhận sự bần khổ và xem lao động cũng là cách tu chân chính. Quan niệm nh vậy đã làm cho Thiền Tông dễ dàng đi sâu vào tầng lớp quần chúng lao động. Tịnh Độ Tông do nhà s Tuệ Viễn sáng lập ở Trung Quốc vào cuối thế kỷ IV, Tông phái này chủ trơng thờ Tam Bảo (A Di Đà, Quan Thế Âm, Đại Thế Chộ và niệm Phật, dựa vào Phật lực để giải thoát là chủ yếu, chủ trơng dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài để cứu chúng sinh thoát khỏi đau khổ, đó là việc hớng họ đến một cõi niết bàn cụ thé, gọi là cõi Tịnh Độ.
Đây là tông phái mang tính phổ quát, dân giã nên thu hút đông đảo tín đồ, tông phái này có những nét gần gũi với ngời dân lao động. Với trình độ t duy có hạn, ngời dân không hiểu đợc sự cao siêu của giáo lý Phật giáo, bằng tắm lòng thành kính, họ mong đợc 9 Phật chứng giám để phù hộ, che chở, giúp đỡ họ có đợc sức mạnh, niềm tin để có thể chiến thắng đợc những trở ngại trong cuộc sống. Mật Tông (Chân Ngôn Tông) do một nhà s Án Độ khai lập khoảng thế kỷ thứ II sau Công Nguyên. Mật Tông đợc hình thành trên nền tảng t tởng của Phật giáo Đại Thừa, nhng cách tô chức, tu tập lại mang màu sắc của Ấn Độ giáo, có tính chất huyền bí, nặng về ấn chú phù phép, lễ thức thờ phụng tơng đối phức tạp.
Mật Tông đề cao vai trò của ngời xuất gia tu hành. Phật giáo Mật Tông đáp ứng đợc nhu cầu tâm linh luôn đặt niềm tin vào sự che chở của thánh thần, cầu mong có những bùa phép để chế ngự ma quỷ, đem lại yên bình cho cuộc sống của ngời dân nớc ta lúc đó. Đây là phái chủ trơng sử dụng những phép tu huyền bí để thu hút tín đồ và mau chóng hòa vào dòng tín ngỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, dùng pháp thuật. Tới thời Lý — Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh.
Những ngời thâm thúy về đạo Phật nh Từ Đạo Hạnh, Không Lộ, Mẫn Giá, L Ân đều là những bậc danh nho. Chùa chiền đợc xây tại khắp trong nớc, dân chúng tô tợng, đúc chuông, sòng bái đức Phật Thích Ca. Sang thời Hậu — Lê, nhà nớc lay Nho giáo làm chu dao tinh thần nên Phật giáo dần suy giảm.