ĐẶT VẤN ĐỀ Cây ngô (Zea mays L.) là một trong những cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới, chỉ đứng thứ ba sau lúa mỳ và lúa nước. Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác. Trong những năm gần đây, nhờ có những chính sách khuyến khích và nhiều tiến bộ kĩ thuật được áp dụng, cây ngô đã có những bước tiến lớn về diện tích, năng suất cũng như sản lượng. Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, trong vòng 10 năm qua (2003 - 2013) năng suất ngô tăng từ 2,75 - 4,43 tấn/ha, diện tích tăng từ 730,2 nghìn ha lên 1.
Tuy nhiên, trong thời gian hiện nay do nhu cầu tiêu thụ ngô ngày càng tăng dẫn đến cung và cầu có độ chênh lệch. Diện tích ngô không tăng nhiều so với tỉ lệ tiêu thụ sản phẩm ngô trên thị trường hiện nay. Do vậy, nước ta phải nhập một lượng ngô lớn mới đáp ứng được phần nào nhu cầu tiêu thụ trên thị trường. Theo số liệu của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, ước tính năm 2013, nước ta phải nhập khoảng 1,6 triệu tấn ngô, tăng 350 nghìn tấn so với năm 2011.
Hàng năm chúng ta phải chi khoảng 30 - 40 triệu USD mua gần 10.000 tấn hạt giống ngô lai. Ngô nếp (Zea mays L. Ceratina Kulesh) được công bố lần đầu tiên ở Trung Quốc vào năm 1909 và ngày nay được trồng rộng rãi ở các nước Châu Á cho thị trường ăn tươi, làm lương thực công nghiệp chế biến. Ở Việt Nam, hiện này đã có nhiều giống ngô nếp mới có năng suất cao, chất lượng tốt được đưa ra trồng ngoài sản xuất.
Ngô nếp cùng với các loại ngô đường, ngô rau tạo ra nhóm ngô thực phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất. Ở huyện Vũ Thư, cây ngô vẫn được xác định là cây trồng chính trong cơ cấu cây trồng của huyện vì vậy để nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho người trồng ngô đòi hỏi Vũ Thư phải lựa chọn được những giống ngô thích hợp nhằm nâng cao năng suất ngô tại địa phương, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trên thị trường hiện nay. Để phát huy tốt tiềm năng của giống ngô nếp mới, bên cạnh việc tạo giống mới, các kỹ thuật canh tác khác như thời vụ, làm đất, mật độ trồng, bón phân, phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại cũng có vai trò rất quan trọng để nâng cao năng suất, 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát huy tiềm năng của giống. Năng suất của g ống ngô đều chịu ảnh hưởng rất lớn bở chế độ bón phân và bố trí mật độ cây trồng trên một đơn vị d ện tích.
Phân bón đặc b ệt là phân đạm có ảnh hưởng rất lớn tớ năng suất ngô. Trong trường hợp lượng đạm bón quá nh ều, s nh trưởng thân lá mạnh nhưng ảnh hưởng đến chất lượng bắp. Bón quá ít không cung cấp đủ d nh dưỡng cho cây làm cho bắp bé và ít dẫn đến năng suất thấp; cùng vớ đó việc bố trí mật độ quá dày hoặc quá thưa đều làm g ảm năng suất ngô. Chính vì vậy v ệc bố trí mật độ và bón phân hợp lí là yếu tố quan trọng quyết định năng suất ngô nếp Ngô Hữu Tình (2009).
Kết quả điều tra sơ bộ cho thấy nhiều hộ nông dân đã đưa giống ngô nếp HN68 vào trồng tại Huyên Vũ Thư, tuy nhiên việc xây dựng quy trình thâm canh cho giống ngô mới tại phương chưa được đầu tư nghiên cứu. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của mức phân đạm và mật độ trồng đến sinh trưởng, năng suất của giống ngô nếp HN68 tại Huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Xác định được mật độ trồng và mức đạm bón hợp lý cho giống ngô nếp HN68 trong thí nghiệm nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất, làm cơ sở xây dựng quy trình canh tác giống ngô nếp HN68 tại Huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu và năng suất của giống ngô nếp HN68 trồng tại Huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. - Lựa chọn mật độ trồng và liều lượng phân đạm bón thích hợp cho giống ngô nếp HN68 trong vụ Hè Thu tại Huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học - Xác định có cơ sở khoa học đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu và năng suất của giống ngô nếp HN68 và lượng mật độ trồng, liều lượng phân bón hợp lý của giống ngô nếp tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở đề xuất quy trình thâm canh cho giống ngô nếp tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. - Góp phần tăng năng suất ngô nếp và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích.
GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI - Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng chống chịu của giống ngô nếp HN68 ở lượng mật độ và liều lượng phân bón khác nhau tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. - Đề tài giới hạn chỉ nghiên cứu mật độ và lượng đạm bón khác nhau cho giống ngô nếp HN68. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
NGHIÊN CỨU VỀ CÂY NGÔ NẾP 2. Nguồn gốc, phân loại, đặc điểm của cây ngô nếp Lịch sử nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khảo cổ, di truyền học, thực vật học, dân tộc học và địa lý học… quan tâm và đưa ra nhiều giả thuyết về nguồn gốc cây ngô nếp. Có giả thuyết cho là nguồn gốc cây ngô khoảng năm 5.000 trước công nguyên (TCN). Những nghiên cứu về di truyền học gần đây cho rằng quá trình thuần hóa ngô diễn ra vào khoảng năm 7000 TCN tại miền trung Mexico và tổ tiên của nó là loại cỏ teosinte hoang dại gần giống nhất với ngô ngày nay vẫn còn mọc trong lưu vực sông Balsas.
Liên quan đến khảo cổ học, người ta cũng đã phát hiện các bắp ngô có sớm nhất tại hang Guila Naquitz trong thung lũng Oaxaca, có niên đại vào khoảng năm 4.250 TCN, các bắp ngô cổ nhất trong các hang động gần Tehuacan, Puebla, có niên đại vào khoảng 2750 TCN (Ngô Hữu Tình, 2009). Một số giả thuyết cho rằng, có lẽ sớm nhất khoảng năm 1500 TCN, ngô bắt đầu phổ biến rộng và nhanh, ngô là lương thực chính của phần lớn các nền văn hóa tiền Columbus tại Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ và khu vực Caribe. Với người dân bản xứ tại đây, ngô được suy tôn như bậc thần thánh và có tầm quan trọng về mặt tôn giáo do ảnh hưởng lớn đối với đời sống của họ. Cho đến ngày nay các nhà khoa học trên thế giới hầu như đã công nhận và thống nhất Mexico là trung tâm phát sinh cây ngô, thậm chí người ta còn cho rằng cái nôi đầu tiên là thung lũng Tehuacan - nằm ở bang Puebla đông nam Mexico.
Bằng chứng thuyết phục cho nhận định này là các di tích về ngô được tìm thấy ở đây là cổ nhất và biểu hiện chuỗi tiến hoá rõ rệt nhất (Ngô Hữu Tình, 2009). Ngô thuộc họ hòa thảo Poaecae, tên khoa học là Zea mays L. do nhà thực vật học Thụy Điển Linnaus đặt theo hệ thống tên kép Latinh. Ngô nếp (Zea mays L.
Ceratina Kulesh), là một trong những loài phụ chính của loài Zea mays L. Hạt ngô nếp nhìn bề ngoài tương tự với ngô đá, nhưng bề mặt bóng hơn. Lớp ngoài cùng của mặt cắt nội nhũ không có lớp sừng như ở ngô tẻ, có tính chất quang học giống như lớp sáp. Do vậy, ngô nếp còn có tên gọi khác là ngô sáp.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngô nếp là dạng ngô tẻ do biến đổi tinh bột mà thành. Tinh bột của ngô nếp chứa amylopectin trên 99% trong khi ngô khác chỉ chứa 72-76% amylopectin và 24- 28% amylose. Các nhà khoa học ở Đại học tổng hợp Ohio - Hoa Kỳ đã phân tích và đưa ra tiêu chuẩn dinh dưỡng của ngô nếp so với một số loại ngô khác, trong đó % protein cao tương đương với ngô giàu protein. Một số đặc tính chất lƣợng của ngô nếp so với ngô thƣờng Hàm lƣợng các chất Dầu Protein Tinh bột Năng lƣợng (%) (%) (%) (kcal/ kg) Loại ngô Thường (Răng ngựa) 4,2 - 4,8 7,7 - 8,2 71,3 - 3,4 1777- 1795 Hàm lượng dầu cao 7,2 - 8,2 8,0 - 9,0 66,2- 67,9 1851- 1869 Giàu lysine 4,0 - 4,5 7,3 - 8,5 70,5 - 2,2 1770- 1785 Nếp 3,2 - 3,6 8,9 - 0,1 73,1 - 3,3 1747- 1758 Nguồn: Ngô Hữu Tình (2009) 2.
Kết quả nghiên cứu và chọn tạo giống ngô nếp trên thế giới Trên thế giới công tác nghiên cứu, chọn tạo giống ngô đã được tiến hành rất sớm bằng nhiều con đường khác nhau như: lai tạo, chọn lọc, đột biến… Người ta cho rằng ngô nếp ưu thế lai cũng như ngô chất lượng protien cao, năng suất giảm đi so với ngô ưu thế lai bình thường, và giả thuyết cho rằng tích lũy mật độ hạt tinh bột thấp, nội nhũ mền và khối lượng hạt thấp hơn. Năm 1990 mục tiêu chương trình tạo giống ngô nếp ưu thế lai và ngô có chất lượng protein của Argentina được bắt đầu và sau đó một vài dòng thuần đước phát triển và thử khả năng phối hợp giữa các dòng tự phối tốt nhất và vụ ngô năm 2001/02 một số tổ hợp lai đơn được thử nghiệm. Số tổ hợp phân thành 3 nhóm là: ngô nếp ưu thế lai, ngô chất lượng protein cao và tổ hợp lai kép cải thiện tinh bột của ngô chất lượng protein. Ở các nước phát triển như Mỹ việc chọn tạo giống ngô nếp tập trung chọn tạo giống ngô nếp ưu thế lai, năm 2003 có 12 công ty hạt giống chào bán các tổ hợp ngô nếp ưu thế lai được kinh doanh trên thị trường, bình quân mỗi công ty 5 tổ hợp và có 20 tổ hợp thời gian sinh trưởng ngắn từ 83 đến 122 ngày.
Tại Hội thảo làm vườn quốc tế lần thứ 27, K. Thongnarin 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.