CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Các phương pháp tăng cường tính chất cơ lý của hỗn hợp cao su 1. Sử dụng chất độn gia cường Đã từ lâu, than đen và silica đã trở thành một chất độn phổ biến trong công nghiệp sản xuất sản phẩm cao su, chất dẻo. Đặc biệt trong công nghiệp sản xuất các sản phẩm từ cao su, chúng có vai trò hết sức quan trọng để gia công các sản phẩm cao su.
Bởi nó không chỉ làm hạ giá thành sản phẩm mà còn làm nâng cao nhiều tính năng cơ lý cho vật liệu cao su [20]. Các đặc trưng tính chất của than đen, silica được thể hiện qua kích thước hạt, diện tích bề mặt, cấu trúc và mức độ hoạt động bề mặt [20]. Với những hạt có kích thước từ 10 đến 30nm có khả năng gia cường lớn. Hình dạng ban đầu của các hạt silica thương mại có ảnh hưởng không nhiều đến hoạt tính của chất độn bằng hình dạng của chúng sau khi đã phân tán trong polymer.
Nguyên nhân là các hạt silica sẽ kết tụ với nhau, các tính chất của tập hợp silica như hình dáng, khối lượng riêng, kích thước quyết định cấu trúc của chất độn này. Đối với than đen, sự tương tác giữa bề mặt carbon với cao su càng lớn thì độ bền của sản phẩm cao su càng cao, modul cao hơn và vật liệu ít đàn hồi. Kích thước hạt là nhân tố quan trọng quyết định cơ tính của cao su sau khi lưu hóa. Đối với một lượng độn than đen có khối lượng cho trước, khi tăng diện tích bề mặt độn vào cao su, tính kháng mài mòn của cao su sẽ tăng đến một mức độ tối đa rồi giảm.
Điều này có thể giải thích như sau: - Đầu tiên, than đen có diện tích bề mặt cao sẽ gây ma sát nội sinh nhiều nhiệt trong các ứng dụng thực tế, có thể dẫn đến sự phân hủy nhiệt hỗn hợp. - Hai là, than đen có diện tích bề mặt cao sẽ khó phân tán hơn, đặc biệt ở lượng độn cao, diện tích bề mặt cao làm khoảng cách giữa các hạt than đen nhỏ hơn. Điều này dẫn đến mạch polymer sẽ không có đủ không gian để thay đổi hình dạng của nó do sự biến dạng, gây nên ứng suất cục bộ, dễ bẻ gãy các chuỗi polymer. Tạo mạng lưới polymer đan xen (Interpenetrating Polymer Network IPN) Interpenetrating Polymer Network (IPN) là sự kết hợp bằng vật lý hay hóa học giữa hai hay nhiều polymer có bản chất khác nhau đã được thương mại hóa và được quan tâm về mặt học thuật từ lâu.
Việc trộn hợp polymer đã được dùng để cải thiện độ mềm dẻo, độ bền kéo, độ bền va đập, độ bền hóa học, độ chịu thời tiết, khả năng chống cháy, và các tính chất khác [21]. Tính chất của hỗn hợp không những phụ thuộc vào các polymer thành phần mà còn phụ thuộc vào phương pháp trộn hợp chúng. Mạng lưới polymer đan xen (Interpenetrating Polymer Network – IPN) là một phương pháp để trộn hai loại polymer nối mạng. Trong IPN, mỗi polymer tự hình thành một mạng lưới riêng, nhưng hai mạng lưới đó lại đan xen vào nhau mà hầu như không có liên kết hóa học giữa hai loại polymer [22].
IPN là một cách trộn hợp hai loại polymer để cho ra một hỗn hợp mà không có sự tách pha rõ rệt so với các phương pháp khác. Trộn hợp cơ học thường mang lại hỗn hợp có hình thái nhiều pha do sự không tương hợp về mặt nhiệt động. Tuy nhiên, khi thực hiện polymer hóa và khâu mạng đồng thời hai loại polymer, hình thành nên sự móc nối giữa hai loại polymer, do đó sự tách pha khó diễn ra do sự cản trở về mặt động học. Phối trộn với các loại nhựa nhiệt dẻo để tạo vật liệu cao su nhiệt dẻo Trên cơ sở kết hợp giữa cao su và nhựa nhiệt dẻo tạo ra vật liệu mang những ưu điểm của các polymer thành phần, khả năng đàn hồi như cao su và khả năng gia công chế tạo như nhựa nhiệt dẻo, vật liệu này gọi là cao su nhiệt dẻo (TPE).
Sự ra đời của TPE vào đầu những năm 30 của thế kỷ XX là một bước tiến mới trong ngành chế tạo vật liệu, chúng được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực công nghiệp và đời sống [23]. Trong năm 1937, một bước đột phá quan trọng xảy ra với sự phát hiện phản ứng cộng chuỗi diisocyanate, nó được ứng dụng lần đầu tiên sản xuất sợi polyurethane và một vài loại polyurethane đàn hồi ở DuPont và ICI. Vật liệu đàn hồi tổng hợp này có độ bền cao hơn cao su thiên nhiên lưu hóa và hồi phục đàn hồi nhanh, và đây có thể được xem là vật liệu đàn hồi nhiệt dẻo đầu tiên. Cùng với sự phát triển của công nghệ polymer, TPE đã không ngừng được phát triển cho đến ngày nay.
Đặc điểm cấu tạo của TPE Hầu hết các vật liệu đàn hồi nhiệt dẻo (TPE) là các hệ phân tách pha, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ. Các polymer riêng biệt cấu thành nên các pha tương ứng, giữ lại hầu hết những đặc tính của chúng. Vì vậy, mỗi pha này thể hiện nhiệt độ chuyển thủy tinh (Tg) hoặc nhiệt độ nóng chảy (Tm) riêng biệt của chúng. Tại hai nhiệt độ này, các vật liệu đàn hồi riêng biệt trải qua các trạng thái chuyển tiếp trong tính chất vật lý của chúng.1: Giản đồ pha của vật liệu đàn hồi [24] • Vùng 1 - Ở nhiệt độ rất thấp, dưới sự chuyển thủy tinh của pha đàn hồi, cả hai pha đều cứng, vì vậy vật liệu cứng và giòn.
• Vùng 2 - Trên nhiệt độ Tg của pha đàn hồi nên pha đàn hồi mềm và vật liệu có tính đàn hồi, giống như cao su lưu hóa truyền thống. • Vùng 3 - Khi nhiệt độ tăng, modul của vật liệu tương đối ổn định cho tới điểm mà pha cứng mềm hoặc nóng chảy. Tại điểm này vật liệu trở thành lưu chất nhớt. Phương pháp tổng hợp và ứng dụng của TPE Có rất nhiều phương pháp tổng hợp vật liệu TPE như: - Chế tạo polymer blend từ dung dịch polymer.
- Chế tạo polymer blend ở trạng thái nóng chảy. - Phương pháp lưu hóa động. - Trùng hợp monomer trong một polymer khác. 6 - Tạo các mạng lưới đan xen của các polymer.
➢ Chế tạo vật liệu TPE bằng phương pháp nóng chảy Việc chế tạo các Polymer Blend bằng phương pháp nóng chảy trên các thiết bị gia công nhựa nhiệt dẻo và thiết bị chế biến cao su như máy luyện kín, máy đùn, máy cán 2 trục, máy ép,. là phương pháp kết hợp đồng thời các yếu tố cơ - nhiệt, cơ - hóa và tác động cưỡng bức lên các polymer thành phần, các chất phụ gia, trộn lẫn chúng với nhau (blend hóa các polymer). Các chất phụ gia trong polymer blend có thể là chất tương hợp, chất hoạt động bề mặt, chất liên kết (coupling agent), hợp chất thấp phân tử có khả năng phản ứng, chất hóa dẻo, chất khâu mạch. Trong công nghệ chế tạo polymer blend, trộn, đùn và đúc phun các polymer ở trạng thái nóng chảy là các công nghệ phổ biến nhất [25].
➢ Chế tạo TPE bằng phương pháp tạo mạng lưới polymer đan xen Phương pháp này tạo các mạng lưới các polymer đan xen, móc vào nhau (interpenetrating polymer networks, IPN). IPN là sự kết hợp của 2 hoặc nhiều polymer bằng các liên kết vật lý, ít nhất một trong các polymer được tổng hợp hoặc khâu mạch với sự có mặt của polymer kia [26]. Khi chế tạo các IPN, cần tránh các phản ứng hóa học xảy ra giữa các polymer thành phần. Khi 2 polymer thành phần trong hệ cùng khâu mạch sẽ thu được mạng lưới các polymer đan xen hoàn toàn (full- IPN), hoặc một trong hai Polymer thành phần khâu mạch sẽ thu được bán IPN (semi- IPN).
➢ Chế tạo TPE từ các dung dịch polymer blend Các polymer thành phần phải hòa tan tốt với nhau trong cùng một dung môi hoặc trong các dung môi có khả năng trộn lẫn với nhau. Kèm theo quá trình khuấy ở nhiệt độ cao và gia nhiệt trong thời gian dài để tạo điều kiện cho các polyme phân tán vào nhau tốt hơn. Sau khi thu được màng polymer blend cần phải đuổi hết dung môi bằng các phương pháp khác nhau (sấy ở nhiệt độ thấp và áp suất thấp) tránh để màng bị rạn nứt, bị phân hủy nhiệt hay phân hủy oxi hóa nhiệt. ➢ Chế tạo TPE bằng phương pháp lưu hóa động Đây là phương pháp thường được sử dụng để tăng khả năng tương hợp của các polymer trong blend từ cao su với nhựa nhiệt dẻo.
Khi lượng cao su lớn, đồng thời độ nhớt của hai polymer tương đương nhau ở nhiệt độ gia công, nếu không được khâu 7 mạch, thì blend tạo thành có cấu trúc gồm pha nhựa phân tán trong pha liên tục của cao su. Trong điều kiện có tác nhân khâu mạch, độ nhớt của pha cao su tăng lên, và đến một mức độ nào đó sẽ xảy ra sự chuyển pha. Kết quả là pha nhựa nhiệt dẻo tái hợp lại, tạo thành pha liên tục có cấu trúc mỏng và bao quanh các vùng thuộc pha phân tán của cao su [22, 25]. Trong trường hợp này, pha nhựa nhiệt dẻo đóng vai trò như lớp chất kết dính các vùng cao su đã khâu mạch với nhau.
Hệ vật liệu được lưu hóa động tạo thành có tính chất giữa nhựa nhiệt dẻo và cao su. Các blend này được xếp vào loại blend cao su nhiệt dẻo (thermoplastic elastomer), do nó vừa có tính đàn hồi của cao su lưu hóa bằng phương pháp thông thường (lưu hóa tĩnh) lại vừa có khả năng gia công bằng các phương pháp như đối với nhựa nhiệt dẻo. Ngày nay, vật liệu TPE được ứng dụng rộng rãi trong nhiều các ngành công nghiệp và trong đời sống. Điển hình là: • Sản xuất bánh răng, vòng bi, đường dây điện thoại.
• Chế tạo vỏ điện thoại, vòng đeo tay thông minh, các thiết bị, dụng cụ gia dụng. • Ứng dụng rộng rãi để sản xuất một loạt các thiết bị như bàn phím, ăng ten điện thoại, lò xo nén sơn đường ống. • Dùng chế tạo các dụng cụ thể thao như gậy chơi gôn, quần vợt,. thiết bị trong lĩnh vực điện ảnh, phim.
• Ứng dụng để chế tạo vật liệu đúc, phụ tùng ô tô, ống hoặc đường ống dẫn dầu. Sử dụng hợp chất Silane Hợp chất silane là các hợp chất hóa học trên cơ sở silic có chứa hai nhóm hoạt động là nhóm vô cơ và hữu cơ trên cùng một phân tử với cấu trúc điển hình là (RO)3SiCH2CH2CH2X.