Phần mở đầu: Phần này bao gồm các nội dung về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận văn và kết cấu của luận văn. Tổng quan về các nghiên cứu trƣớc có liên quan: Chương này sẽ tổng quan các nghiên cứu về các mô hình đo lường mức độ QTLN, các phương pháp đo lường RPTs, các nhân tố tác động đến mức độ QTLN, từ đó tìm ra khe hổng nghiên cứu và xác định nội dung nghiên cứu cho luận văn. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Chương này trình bày một số khái niệm quan trọng liên quan đến QTLN và RPTs, cơ sở hành vi QTLN, các kỹ thuật QTLN, các lý thuyết nền tảng và mô hình nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu: Chương này trình bày các nội dung về quy trình nghiên cứu, mô hình hồi quy và đo lường biến trong mô hình, thiết kế nghiên cứu và phương pháp phân tích số liệu.
Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Chương này tập trung vào việc phân tích và bàn luận về kết quả của nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị: Đề xuất một số giải pháp mà theo tác giả cho là cần thiết góp phần kiểm soát tốt RPTs, hạn chế tác động tiêu cực của QTLN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC LIÊN QUAN 1. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc về các cách đo lƣờng giao dịch các bên liên quan 1.
Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Giao dịch phát sinh giữa đơn vị báo cáo và các bên liên quan rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau. Chính vì vậy, RPTs cũng được đo lường theo nhiều cách khác nhau như: Nghiêm cứu của Chu-Yang và Hsu Joseph (2010) RPTs được đo lường như sau: RP sales: giao dịch bán hàng với các bên liên quan (được tính bằng doanh thu bán hàng với các bên liên quan chia cho tổng doanh thu trong năm); RP purchase: giao dịch mua hàng với bên liên quan (được tính bằng giao dịch mua hàng với bên liên quan chia cho giá vốn hàng bán trong năm); RPAG: Lãi thanh lý tài sản cho các bên liên quan (được tính bằng lãi thanh lý tài sản cho các bên liên quan chia cho danh thu trong năm); RPAL: Lỗ thanh lý tài sản cho các bên liên quan (được tính bằng lỗ thanh lý tài sản cho các bên liên quan chia cho danh thu trong năm); RPIR: Doanh thu tài chính với bên liên quan (được tính bằng doanh thu tài chính với bên liên quan chia cho doanh thu trong năm); RPIE: Chi phí tài chính với bên liên quan (được tính bằng chi phí tài chính với bên liên quan chia cho doanh thu trong năm). Nghiên cứu của Kuan và cộng sự (2010) đo lường RPTs bằng cách lấy tổng giá trị RPTs chia cho tổng tài sản năm trước liền kề. Trong đó tổng giá trị RPTs bao gồm các giao dịch hình thành tài sản, hình thành nợ phải trả, các giao dịch phát sinh doanh thu và chi phí với các bên liên quan.
Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2011) RPTs được đo lường bằng cách lấy tổng giá trị các giao dịch RPTs phát sinh trong năm chia cho tổng tài sản năm trước liền kề. Trong đó RPTs bao gồm 5 loại giao dịch sau: quan hệ thương mại, bán tài sản phi tiền tệ, chi phí hành chính, nhượng quyền thương mại và tiền bản quyền và cho thuê. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nghiên cứu của Srinivasan (2013) RPTs bao gồm ba loại chính dùng để xem xét mối quan hệ giữa ROA và RPTs là RP_INC: Thu nhập từ cung cấp dịch vụ cho các bên liên quan (được tính bằng thu nhập từ cung cấp dịch vụ cho các bên liên quan chia cho tổng thu nhập của công ty trong năm); RP_EXP: Chi phí với bên liên quan bao gồm mua hàng hóa, nhận dịch vụ, chi phí khác (được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với tổng chi phí của công ty trong năm); RP_LABG: Cho vay và ứng trước cho các bên liên quan như các khoản hỗ trợ tài chính cho các bên liên quan bao gồm cả các khoản bảo lãnh (được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với tổng tài sản). Nghiên cứu của El-Helaly và cộng sự (2018) RPTs được đo lường theo Ryngaert và Thomas (2012), RPTs được đo lường thông qua một biến giả, RPTs bằng 1 khi tổng giá trị RPTs được đính kèm vượt quá 1% tổng tài sản, giá trị RPTs của 1 năm quan sát cho mỗi công ty bao gồm giá trị bán hàng, mua hàng, số dư công nợ giữa công ty với các bên liên quan.
Nghiên cứu của Marchini và cộng sự (2018) RPTs được đo lường bằng cách lấy logarit của giá trị giao dịch hàng năm (Hu và các cộng sự. Với mỗi quan sát ứng với mỗi năm của một công ty, tác giả tính tổng giá trị của các giao dịch bán hàng phát sinh trong năm với bên liên quan (RPT sales) và sau đó lấy logarit của tổng này. Các nghiên cứu trong nƣớc Mặc dù, giao dịch các bên liên quan có nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm nghiên cứu và có nhiều cách đo lường khác nhau. Tuy nhiên, trong nước các nghiên cứu về giao dịch bên liên quan vẫn còn rất hạn chế.
Chính vì thế, tác giả chưa tìm thấy cách đo lường nào theo các nhà nghiên cứu trong nước. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc về các mô hình đo lƣờng mức độ quản trị lợi nhuận Các mô hình đo lường mức độ QTLN dựa trên cơ sở dồn tích (AEM): Các nhà nghiên cứu đo lường mức độ QTLN thông qua biến dồn tích có thể điều chỉnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trên thế giới có những mô hình đo lường phổ biến sau: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified Jones Model (1995), The Friedlan (1994). Đối với việc đo lường mức độ QTLN thông qua nghiệp vụ kinh tế phát sinh (REM) không thể không kể đến mô hình của Roychowdhury (2006).
Mô hình The Healy Model (1985) TAit A NDAit t it 1 n Và DAit = TAit/Ait-1 – NDAit Trong đó : n : số năm trong kỳ ước tính i: công ty i cần nghiên cứu mức độ điều chỉnh lợi nhuận t: năm sự kiện (năm nghiên cứu mức độ điều chỉnh lợi nhuận) Mô hình Healy (1985) được xem là mô hình đo lường QTLN đầu tiên, Theo Healy (1985) tổng dồn tích là phần chênh lệch giữa lợi nhuận được báo cáo và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Tổng dồn tích (TA) bao gồm hai phần: dồn tích điều chỉnh (DA) và dồn tích không điều chỉnh (NDA), tác giả cho rằng NDA không thay đổi theo thời gian, do vậy QTLN được đo lường thông qua DA. Khi DA bằng 0 cũng đồng nghĩa với việc không tồn tại hành vi điều chỉnh lợi nhuận, khi đó DA bằng NDA và NDA chính là giá trị trung bình của TA. Mô hình DeAngelo Model (1986) Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh của công ty i tại năm sự kiện t: TAit 1 NDAit Ait 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh của công ty i tại năm sự kiện t: TAit DAit NDAit Ait 1 DeAngelo (1986) cho rằng sự biến đổi về mức độ dồn tích giữa hai kỳ chính là mức độ điều chỉnh lợi nhuận nên phần biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) được đo lường bằng chênh lệch biến kế toán dồn tích giữa hai kỳ.
Mô hình của DeAngelo (1986) khác biệt với mô hình Healy (1985) phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) được đo lường theo giá trị biến kế dồn tích của năm trước (TAt-1) thay vì trung bình biến kế toán dồn tích trong giai đoạn nghiên cứu. Mô hình DeAngelo (1986) không thật sự chính xác để ước tính giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) làm ảnh hưởng đến kết quả tính toán chung của mô hình khi giả định rằng giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) không thay đổi theo thời gian. Bởi vì giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) chịu ảnh hưởng nhất định bởi mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy nếu doanh nghiệp đang trong thời gian đoạn phát triển, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh thì giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) có thể biến động dẫn đến kết quả tính toán của mô hình sai lệch nhiều so với thực tế. Mô hình Jones Model (1991) NDAit 1 REVit PPE it 1 2 3 it Ait 1 Ait 1 Ait 1 Ait 1 Trong đó : REVit : Doanh thu thuần công ty i năm t trừ doanh thu thuần công ty i năm t-1 PPEit : Nguyên giá TSCĐ hữu hình công ty i cuối năm t Ait-1 : Tổng tài sản công ty i cuối năm t-1 α1, α2, α3 : Các tham số của từng công ty LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Các tham số α1, α2, α3 ở mô hình trên được tính thông qua mô hình sau ở kỳ ước tính: TAit 1 REVit PPE it a1 a2 a3 it Ait 1 Ait 1 Ait 1 Ait 1 Trong đó : a1 , a2 , a3 : Kết quả ước tính α1, α2, α3 thông qua ước tính OLS TAit : Tổng dồn tích công ty i năm t it Phần dư, đại diện cho phần dồn tích có thể điều chỉnh công ty i : năm t Mô hình Jones (1991) khắc phục hạn chế quan trọng của mô hình Healy (1985) và mô hình DeAngelo (1986) khi giả định biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) không thay đổi theo thời gian đã được loại bỏ.
Mô hình Friedlan Model (1994) Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) được tính theo mô hình sau : TAit TAit 1 DAit Sales it Sales it 1 Trong đó : Salesit : Doanh thu công ty i năm t TAit : Tổng dồn tích công ty i năm t = Lợi nhuận sau thuế năm t (NIit) – Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD năm t (CFOit) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Mô hình Friedlan (1994) là một biến thể của mô hình DeAngelo (1986), Friendlan đã đưa vào mô hình biến doanh thu để kiểm soát sự thay đổi trong mức độ hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, giá trị biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) theo mô hình Friedlan (1994) được tính toán chính xác hơn hai mô hình của DeAngelo (1986) và Healy (1985).