Ảnh hưởng của giao dịch bên liên quan đến quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh ảnh hưởng của giao dịch các bên liên quan đến quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết bằng, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Kế toán (Hƣớng nghiên cứu)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

157
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT

ABSTRACT

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp của luận văn

1.6. Kết cấu của luận văn

2. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC LIÊN QUAN

2.1. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc về các cách đo lƣờng giao dịch các bên liên quan

2.1.1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài

2.1.2. Các nghiên cứu trong nƣớc

2.2. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc về các mô hình đo lƣờng mức độ quản trị lợi nhuận

2.2.1. Các mô hình đo lƣờng mức độ QTLN dựa trên cơ sở dồn tích (AEM)

2.2.2. Mô hình The Healy Model (1985)

2.2.3. Mô hình DeAngelo Model (1986)

2.2.4. Mô hình Jones Model (1991)

2.2.5. Mô hình Friedlan Model (1994)

2.2.6. Mô hình Modified Jones Model (Dechow và các cộng sự 1995)

2.2.7. Mô hình đo lƣờng QTLN thực của Roychowdhury (2006)

2.3. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc về các nhân tố tác động đến quản trị lợi nhuận

2.3.1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài

2.3.2. Các nghiên cứu trong nƣớc

2.3.3. Khe hổng nghiên cứu

2.4. KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

3. CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1. Một số nội dung cơ bản về giao dịch các bên liên quan

3.1.1. Khái niệm giao dịch các bên liên quan

3.1.2. Hình thức giao dịch các bên liên quan

3.1.3. Quy định về trình bày thông tin các bên liên quan

3.2. Một số nội dung cơ bản về hành vi quản trị lợi nhuận

3.2.1. Một số thuật ngữ và khái niệm chính

3.2.2. Cơ sở hành vi quản trị lợi nhuận

3.2.3. Kỹ thuật quản trị lợi nhuận

3.2.4. Các lý thuyết nền tảng

3.2.4.1. Lý thuyết ủy nhiệm (agency theory)
3.2.4.2. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory)

3.3. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

3.3.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

3.3.2. Phát triển các giả thuyết nghiên cứu

3.4. KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

4. CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu

4.2. Quy trình nghiên cứu

4.3. Mô hình hồi quy và đo lƣờng biến trong mô hình

4.3.1. Mô hình hồi quy

4.3.2. Đo lƣờng biến trong mô hình

4.4. Thiết kế nghiên cứu

4.4.1. Mẫu nghiên cứu

4.4.2. Thu thập dữ liệu

4.4.3. Xử lý dữ liệu

4.4.4. Phân tích dữ liệu

4.5. KẾT LUẬN CHƢƠNG 3

5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

5.1. Phân tích thực trạng quản trị lợi nhuận của các CTNY trên TTCK Việt Nam

5.2. Phân tích thực trạng tham gia vào giao dịch với bên liên quan của các CTNY trên TTCK Việt Nam

5.3. Thống kê mô tả các biến kiểm soát trong mô hình

5.4. Phân tích tƣơng quan

5.5. Phân tích hồi quy

5.5.1. Lựa chọn ƣớc lƣợng hồi quy phù hợp

5.5.2. Kiểm định khuyết tật của mô hình do vi phạm các giả định

5.5.3. Kết quả nghiên cứu

5.6. Bàn luận về kết quả nghiên cứu

5.7. KẾT LUẬN CHƢƠNG 4

6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

6.1. Đối với các công ty niêm yết

6.2. Đối với các đối tƣợng khác

6.3. Hạn chế đề tài và hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai

6.4. KẾT LUẬN CHƢƠNG 5

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng của giao dịch bên liên quan đến quản trị lợi nhuận

Giao dịch bên liên quan (RPTs) là một khía cạnh quan trọng trong quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa RPTs và quản trị lợi nhuận, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà các công ty niêm yết thực hiện các giao dịch này.

1.1. Khái niệm giao dịch bên liên quan và quản trị lợi nhuận

Giao dịch bên liên quan đề cập đến các giao dịch giữa công ty và các bên có liên quan, như cổ đông, quản lý, hoặc các công ty liên kết. Quản trị lợi nhuận là hành vi điều chỉnh báo cáo tài chính nhằm đạt được các mục tiêu nhất định. Sự kết hợp giữa hai khái niệm này tạo ra những thách thức và cơ hội cho các công ty.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu này trong bối cảnh Việt Nam

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về cách mà các công ty niêm yết tại Việt Nam quản lý lợi nhuận thông qua các giao dịch bên liên quan. Điều này không chỉ giúp các nhà đầu tư mà còn hỗ trợ các nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định đúng đắn.

II. Vấn đề và thách thức trong quản trị lợi nhuận qua giao dịch bên liên quan

Mặc dù giao dịch bên liên quan có thể mang lại lợi ích cho công ty, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và thách thức. Các vấn đề như xung đột lợi ích và tính minh bạch trong báo cáo tài chính là những yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Xung đột lợi ích trong giao dịch bên liên quan

Xung đột lợi ích xảy ra khi các bên liên quan có lợi ích khác nhau, dẫn đến việc quản lý lợi nhuận không minh bạch. Điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và giá trị của công ty.

2.2. Tính minh bạch trong báo cáo tài chính

Tính minh bạch là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng lòng tin từ các nhà đầu tư. Các công ty cần đảm bảo rằng thông tin về giao dịch bên liên quan được công bố đầy đủ và chính xác.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của giao dịch bên liên quan đến quản trị lợi nhuận

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để phân tích dữ liệu từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các mô hình hồi quy sẽ được áp dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa RPTs và quản trị lợi nhuận.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Dữ liệu sẽ được thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trong giai đoạn 2016-2018. Các biến số sẽ được xác định để đo lường mức độ quản trị lợi nhuận và giao dịch bên liên quan.

3.2. Phân tích dữ liệu và mô hình hồi quy

Mô hình hồi quy sẽ được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa RPTs và quản trị lợi nhuận. Kết quả sẽ giúp xác định mức độ ảnh hưởng của các giao dịch này đến lợi nhuận của công ty.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa giao dịch bên liên quan và quản trị lợi nhuận. Điều này cho thấy rằng các công ty có nhiều giao dịch bên liên quan thường có mức độ quản trị lợi nhuận cao hơn.

4.1. Phân tích kết quả và thảo luận

Kết quả cho thấy rằng các công ty niêm yết có sự tham gia cao vào giao dịch bên liên quan thường có xu hướng quản trị lợi nhuận tốt hơn. Điều này có thể do các công ty này có khả năng kiểm soát tốt hơn các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Các công ty có thể sử dụng kết quả nghiên cứu này để cải thiện quy trình quản trị lợi nhuận của mình, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo ra giá trị cho cổ đông.

V. Kết luận và hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng giao dịch bên liên quan có ảnh hưởng đáng kể đến quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khía cạnh cần được nghiên cứu thêm.

5.1. Tóm tắt kết quả chính

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng RPTs có mối quan hệ tích cực với quản trị lợi nhuận, điều này mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực này.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phân tích sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa RPTs và quản trị lợi nhuận, cũng như áp dụng các mô hình khác nhau để kiểm tra tính chính xác của kết quả.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh ảnh hưởng của giao dịch các bên liên quan đến quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết bằng chứng thực nghiệm tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu: Phần này bao gồm các nội dung về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận văn và kết cấu của luận văn. Tổng quan về các nghiên cứu trƣớc có liên quan: Chương này sẽ tổng quan các nghiên cứu về các mô hình đo lường mức độ QTLN, các phương pháp đo lường RPTs, các nhân tố tác động đến mức độ QTLN, từ đó tìm ra khe hổng nghiên cứu và xác định nội dung nghiên cứu cho luận văn. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Chương này trình bày một số khái niệm quan trọng liên quan đến QTLN và RPTs, cơ sở hành vi QTLN, các kỹ thuật QTLN, các lý thuyết nền tảng và mô hình nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu: Chương này trình bày các nội dung về quy trình nghiên cứu, mô hình hồi quy và đo lường biến trong mô hình, thiết kế nghiên cứu và phương pháp phân tích số liệu.

Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Chương này tập trung vào việc phân tích và bàn luận về kết quả của nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị: Đề xuất một số giải pháp mà theo tác giả cho là cần thiết góp phần kiểm soát tốt RPTs, hạn chế tác động tiêu cực của QTLN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC LIÊN QUAN 1. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc về các cách đo lƣờng giao dịch các bên liên quan 1.

Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Giao dịch phát sinh giữa đơn vị báo cáo và các bên liên quan rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau. Chính vì vậy, RPTs cũng được đo lường theo nhiều cách khác nhau như: Nghiêm cứu của Chu-Yang và Hsu Joseph (2010) RPTs được đo lường như sau: RP sales: giao dịch bán hàng với các bên liên quan (được tính bằng doanh thu bán hàng với các bên liên quan chia cho tổng doanh thu trong năm); RP purchase: giao dịch mua hàng với bên liên quan (được tính bằng giao dịch mua hàng với bên liên quan chia cho giá vốn hàng bán trong năm); RPAG: Lãi thanh lý tài sản cho các bên liên quan (được tính bằng lãi thanh lý tài sản cho các bên liên quan chia cho danh thu trong năm); RPAL: Lỗ thanh lý tài sản cho các bên liên quan (được tính bằng lỗ thanh lý tài sản cho các bên liên quan chia cho danh thu trong năm); RPIR: Doanh thu tài chính với bên liên quan (được tính bằng doanh thu tài chính với bên liên quan chia cho doanh thu trong năm); RPIE: Chi phí tài chính với bên liên quan (được tính bằng chi phí tài chính với bên liên quan chia cho doanh thu trong năm). Nghiên cứu của Kuan và cộng sự (2010) đo lường RPTs bằng cách lấy tổng giá trị RPTs chia cho tổng tài sản năm trước liền kề. Trong đó tổng giá trị RPTs bao gồm các giao dịch hình thành tài sản, hình thành nợ phải trả, các giao dịch phát sinh doanh thu và chi phí với các bên liên quan.

Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2011) RPTs được đo lường bằng cách lấy tổng giá trị các giao dịch RPTs phát sinh trong năm chia cho tổng tài sản năm trước liền kề. Trong đó RPTs bao gồm 5 loại giao dịch sau: quan hệ thương mại, bán tài sản phi tiền tệ, chi phí hành chính, nhượng quyền thương mại và tiền bản quyền và cho thuê. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nghiên cứu của Srinivasan (2013) RPTs bao gồm ba loại chính dùng để xem xét mối quan hệ giữa ROA và RPTs là RP_INC: Thu nhập từ cung cấp dịch vụ cho các bên liên quan (được tính bằng thu nhập từ cung cấp dịch vụ cho các bên liên quan chia cho tổng thu nhập của công ty trong năm); RP_EXP: Chi phí với bên liên quan bao gồm mua hàng hóa, nhận dịch vụ, chi phí khác (được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với tổng chi phí của công ty trong năm); RP_LABG: Cho vay và ứng trước cho các bên liên quan như các khoản hỗ trợ tài chính cho các bên liên quan bao gồm cả các khoản bảo lãnh (được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với tổng tài sản). Nghiên cứu của El-Helaly và cộng sự (2018) RPTs được đo lường theo Ryngaert và Thomas (2012), RPTs được đo lường thông qua một biến giả, RPTs bằng 1 khi tổng giá trị RPTs được đính kèm vượt quá 1% tổng tài sản, giá trị RPTs của 1 năm quan sát cho mỗi công ty bao gồm giá trị bán hàng, mua hàng, số dư công nợ giữa công ty với các bên liên quan.

Nghiên cứu của Marchini và cộng sự (2018) RPTs được đo lường bằng cách lấy logarit của giá trị giao dịch hàng năm (Hu và các cộng sự. Với mỗi quan sát ứng với mỗi năm của một công ty, tác giả tính tổng giá trị của các giao dịch bán hàng phát sinh trong năm với bên liên quan (RPT sales) và sau đó lấy logarit của tổng này. Các nghiên cứu trong nƣớc Mặc dù, giao dịch các bên liên quan có nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm nghiên cứu và có nhiều cách đo lường khác nhau. Tuy nhiên, trong nước các nghiên cứu về giao dịch bên liên quan vẫn còn rất hạn chế.

Chính vì thế, tác giả chưa tìm thấy cách đo lường nào theo các nhà nghiên cứu trong nước. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc về các mô hình đo lƣờng mức độ quản trị lợi nhuận Các mô hình đo lường mức độ QTLN dựa trên cơ sở dồn tích (AEM): Các nhà nghiên cứu đo lường mức độ QTLN thông qua biến dồn tích có thể điều chỉnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trên thế giới có những mô hình đo lường phổ biến sau: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified Jones Model (1995), The Friedlan (1994). Đối với việc đo lường mức độ QTLN thông qua nghiệp vụ kinh tế phát sinh (REM) không thể không kể đến mô hình của Roychowdhury (2006).

Mô hình The Healy Model (1985) TAit A NDAit  t it 1 n Và DAit = TAit/Ait-1 – NDAit Trong đó : n : số năm trong kỳ ước tính i: công ty i cần nghiên cứu mức độ điều chỉnh lợi nhuận t: năm sự kiện (năm nghiên cứu mức độ điều chỉnh lợi nhuận) Mô hình Healy (1985) được xem là mô hình đo lường QTLN đầu tiên, Theo Healy (1985) tổng dồn tích là phần chênh lệch giữa lợi nhuận được báo cáo và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Tổng dồn tích (TA) bao gồm hai phần: dồn tích điều chỉnh (DA) và dồn tích không điều chỉnh (NDA), tác giả cho rằng NDA không thay đổi theo thời gian, do vậy QTLN được đo lường thông qua DA. Khi DA bằng 0 cũng đồng nghĩa với việc không tồn tại hành vi điều chỉnh lợi nhuận, khi đó DA bằng NDA và NDA chính là giá trị trung bình của TA. Mô hình DeAngelo Model (1986) Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh của công ty i tại năm sự kiện t: TAit 1 NDAit  Ait  2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh của công ty i tại năm sự kiện t: TAit DAit   NDAit Ait 1 DeAngelo (1986) cho rằng sự biến đổi về mức độ dồn tích giữa hai kỳ chính là mức độ điều chỉnh lợi nhuận nên phần biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) được đo lường bằng chênh lệch biến kế toán dồn tích giữa hai kỳ.

Mô hình của DeAngelo (1986) khác biệt với mô hình Healy (1985) phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) được đo lường theo giá trị biến kế dồn tích của năm trước (TAt-1) thay vì trung bình biến kế toán dồn tích trong giai đoạn nghiên cứu. Mô hình DeAngelo (1986) không thật sự chính xác để ước tính giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) làm ảnh hưởng đến kết quả tính toán chung của mô hình khi giả định rằng giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) không thay đổi theo thời gian. Bởi vì giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) chịu ảnh hưởng nhất định bởi mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy nếu doanh nghiệp đang trong thời gian đoạn phát triển, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh thì giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) có thể biến động dẫn đến kết quả tính toán của mô hình sai lệch nhiều so với thực tế. Mô hình Jones Model (1991) NDAit 1 REVit PPE it  1  2  3   it Ait 1 Ait 1 Ait 1 Ait 1 Trong đó : REVit : Doanh thu thuần công ty i năm t trừ doanh thu thuần công ty i năm t-1 PPEit : Nguyên giá TSCĐ hữu hình công ty i cuối năm t Ait-1 : Tổng tài sản công ty i cuối năm t-1 α1, α2, α3 : Các tham số của từng công ty LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Các tham số α1, α2, α3 ở mô hình trên được tính thông qua mô hình sau ở kỳ ước tính: TAit 1 REVit PPE it  a1  a2  a3   it Ait 1 Ait 1 Ait 1 Ait 1 Trong đó : a1 , a2 , a3 : Kết quả ước tính α1, α2, α3 thông qua ước tính OLS TAit : Tổng dồn tích công ty i năm t  it Phần dư, đại diện cho phần dồn tích có thể điều chỉnh công ty i : năm t Mô hình Jones (1991) khắc phục hạn chế quan trọng của mô hình Healy (1985) và mô hình DeAngelo (1986) khi giả định biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) không thay đổi theo thời gian đã được loại bỏ.

Mô hình Friedlan Model (1994) Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) được tính theo mô hình sau : TAit TAit 1 DAit   Sales it Sales it 1 Trong đó : Salesit : Doanh thu công ty i năm t TAit : Tổng dồn tích công ty i năm t = Lợi nhuận sau thuế năm t (NIit) – Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD năm t (CFOit) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Mô hình Friedlan (1994) là một biến thể của mô hình DeAngelo (1986), Friendlan đã đưa vào mô hình biến doanh thu để kiểm soát sự thay đổi trong mức độ hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, giá trị biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) theo mô hình Friedlan (1994) được tính toán chính xác hơn hai mô hình của DeAngelo (1986) và Healy (1985).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ