chương I đến chương XXIV, trừ các sản phẩm từ cá và rải rác ở các chương khác2, không gồm các sản phẩm lâm nghiệp. Định nghĩa sản phẩm nông nghiệp được chia thành các nhóm như sau: • Nhóm nông sản cơ bản như bột mỳ, lúa, gạo, động vật sống, sữa, cà phê, hồ tiêu, chè, hạt điều, rau quả tươi, … • Nhóm mặt hàng đã qua chế biến từ nông sản như sản phẩm từ sữa, bánh kẹo, xúc xích, thức uống, thuốc lá, bia, rượu, bông xơ, da động vật thô… • Các sản phẩm phái sinh gồm bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt, … 1 Website của Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO) “http://www.org/faostat/en/#definitions” 2 Hiệp định nông nghiệp (AOA) của WTO truy cập tại trang “https://www.org/english/tratop_e/agric_e/ag_intro01_intro_e.htm#top” ngày 10/7/2017 8 - Khái niệm của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam: Định nghĩa về nông sản của Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với quy định trong WTO và các tổ chức khác. Trong đó, theo cách phân loại này chỉ có tính chất tương đối, nông nghiệp bao gồm cả hoạt động nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt), thủy sản và lâm nghiệp, trong khi những ngành liên quan đến chế biến nông lâm thủy sản lại thuộc vào ngành công nghiệp chế biến.3 Từ các quan điểm về nông sản trên, có thể kết luận mỗi tổ chức và quốc gia có định nghĩa khác nhau. Vì vậy, để thuận tiện cho việc thu thập dữ liệu nghiên cứu, sản phẩm nông sản được định nghĩa theo phân loại của danh mục tiêu chuẩn ngoại thương – SITC, là những sản phẩm thu được từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, bao gồm cả hoạt động chế biến những sản phẩm này (bao gồm cả ngư nghiệp và lâm nghiệp).
Đây là khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu này. Theo SITC phiên bản thứ 3, nhóm hàng nông sản (theo phân loại 1 chữ số) được đưa vào trong mô hình nghiên cứu bao gồm: LV thạc sĩ Kinh tế • SITC 0: lương thực, thực phẩm và thực phẩm sống; • SITC 1: thuốc lá và đồ uống; • SITC 2: nguyên vật liệu thô, không dùng để ăn, trừ nhiên liệu. Trong nhóm này, nông sản sẽ không bao gồm nhóm SITC 27 (phân bón thô, khoáng sản) và SITC 28 (quặng kim loại và kim loại phế liệu); • SITC 4: sáp động vật, sáp thực vật, và dầu mỡ. Những khái niệm và đặc điểm của các hiệp định thương mại tự do Trong WTO, Hiệp định thương mại tự do được định nghĩa là “Hiệp định được ký kết giữa hai hay nhiều quốc gia để tạo ra một khu vực thương mại tự do mà ở đó hàng hóa, dịch vụ và các nguồn lực được lưu thông qua biên giới mà không bị rào cản về thuế quan và phi thuế quan”4.
Hiệp định thương mại tự do yêu cầu các quốc gia thành viên phải cam kết loại bỏ hoặc cắt giảm các hàng rào về thuế quan, phi thuế quan trong tất cả lĩnh vực 3 Tóm tắt Hiệp định nông nghiệp trong WTO, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI (2010) 4 Website của Trung tâm WTO -VCCI: “http://trungtamwto.vn/tin-tuc/hoi-dap-ve-cac-hiep-dinh-thuong-mai- tu-do-fta” - đăng ngày 1/12/2015 9 về hàng hóa và dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, môi trường, lao động và sở hữu nhà nước. Các nước tham gia vào các Hiệp định mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa, từ đó cải thiện hiệu quả phân phối nguồn lực, giảm chi phí và tăng năng suất lao động. Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh của quốc gia thuận lợi hơn sẽ giúp thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp, tạo ra nhiều việc làm, đem lại nguồn thu cho đất nước và được chuyển giao các công nghệ tiến bộ. Hay nói cách khác, FTA được xem là bước đầu tiên trong tiến trình hội nhập toàn cầu và là hình thức liên kết phổ biến nhất trên thế giới.
Tính đến tháng 7 năm 2017, trên thế giới có đến 659 FTA đã và đang được ký kết từ năm 1948 (trong đó 455 FTA đã có hiệu lực)5. Trong đó, số lượng các Hiệp định chỉ thật sự tăng mạnh khi Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập vào năm 1994. Đồ thị 2-1 Số lượng các Hiệp định khu vực toàn thế giới giai đoạn 1948-2017 LV thạc sĩ Kinh tế Nguồn: Ban thư ký WTO 5 Website của WTO: “https://www.org/english/tratop_e/region_e/regfac_e.htm” cập nhật ngày 10/7/2017 10 Đồ thị 2-1 cho thấy ở giai đoạn từ năm 1948-1994, theo số liệu của GATT thì chỉ có 124 Hiệp định thương mại khu vực (RTA) được ký kết và chỉ liên quan đến lĩnh vực hàng hóa, giai đoạn sau năm 1994 đến nay đã chứng kiến hơn 500 Hiệp định được đàm phán và ký kết, nội dung các RTA cũng mở rộng ra cả lĩnh vực về hàng hóa và dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ. Trong quá trình đàm phán FTA, nông nghiệp là một trong những ngành sẽ chịu tác động lớn vì sản phẩm nông nghiệp có tính chất nhạy cảm, phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của một bộ phận người dân có thu nhập thấp (người nông dân ở các nước đang phát triển) và được các quốc gia (đặc biệt là nhóm các nước phát triển) bảo hộ để đảm bảo an ninh lương thực trong khi thế giới luôn biến động và nạn đói vẫn luôn rình rập.
Khi các Hiệp định này được ký kết, ngành nông nghiệp sẽ được tạo nhiều điều kiện thuận lợi để xuất khẩu sang các thị trường, tuy nhiên cũng tồn tại nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện. LV thạc sĩ Kinh tế 2. Nền tảng lý thuyết về thương mại quốc tế 2. Lý thuyết về thương mại quốc tế và lợi thế cạnh tranh Thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân phối, sử dụng tài nguyên và nguồn lực kinh tế giữa các nước thông qua trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nguồn lực nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đa dạng một cách hiệu quả nhất.
Sự phát triển của thương mại quốc tế bắt đầu từ rất lâu, nhưng đến những năm cuối của thế kỷ XV, bắt đầu với sự ra đời của chủ nghĩa trọng thương, nguồn gốc và những lợi ích từ hoạt động thương mại quốc tế mới được giải thích. Các quan điểm cơ bản trong chủ nghĩa trọng thương chính là việc xem tiền tệ (vàng, bạc) làm nên sự giàu có của các quốc gia và một nước có thể thu được nhiều kim loại quý từ việc xuất khẩu; ngược lại, hoạt động nhập khẩu chính là đem vàng, bạc của nước mình cho quốc gia khác. Do vậy, việc duy trì xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu mới đem lại lợi ích cho quốc gia (Coleman, 1969). Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng thương phạm phải một sai lầm chính là cho rằng thương mại giữa các nước là trò chơi có tổng bằng 0 (sero-sum game), nghĩa là thương mại chỉ là để phân chia lại tài 11 sản vì tổng số của cải trên thế giới là không đổi.
Kết quả là các nước ngày càng có xu hướng thực hiện các chính sách bảo hộ nội địa và hạn chế nhập khẩu bằng nhiều cách khác nhau như hạn ngạch và thuế quan… Nhược điểm chủ nghĩa trọng thương này đã được lý thuyết của Adam Smith và Ricardo chứng minh và khẳng định thương mại là trò chơi mà tổng lợi ích là số dương (positive-sum game), tức là tất cả các nước đều thu được lợi ích.Smith (1776) với lý thuyết về “Lợi thế tuyệt đối” cho rằng các quốc gia nên tiến hành trao đổi tự do trên cơ sở đẩy mạnh phân công lao động giữa các nước với nhau và các quốc gia nên thực hiện chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm có lợi thế tuyệt đối (chi phí sản xuất thấp) để xuất khẩu và nhập khẩu những sản phẩm không có lợi thế tuyệt đối. Ưu điểm của lý thuyết này chính là Smith đã nhận thức được vai trò của việc chuyên môn hóa, cũng như phân công lao động quốc tế và quan hệ thương mại phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Tuy nhiên, lý thuyết lợi thế tuyệt đối lại chưa giải thích được việc tại sao có sự tồn tại trao đổi LV thạc sĩ Kinh tế thương mại giữa một nước lớn (có các lợi thế tuyệt đối) và một nước nhỏ (hầu như không có lợi thế). Trên nền tảng của Adam Smith, hai lý thuyết khác được xây dựng và phát triển chính là “Lý thuyết về lợi thế so sánh” của Ricardo vào thế kỷ XIX và lý thuyết của Eli Heckscher và Bertil Ohlin (H-O) ở thế kỷ XX.
Lý thuyết của Ricardo (1817) khẳng định một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia, tức là dựa trên sự khác biệt giữa các nước về năng suất lao động. Ưu điểm của lý thuyết lợi thế so sánh chính là bất kỳ quốc gia nào đều có lợi ích khi tham gia thương mại quốc tế và trả lời được câu hỏi còn bỏ ngỏ trong lý thuyết của Adam Smith. Tuy nhiên, hạn chế của lý thuyết này chính là chưa xem xét các yếu tố như hàng rào thương mại, chi phí vận chuyển, tỷ giá và chưa giải thích được sự khác biệt về năng suất lao động giữa các quốc gia. Chi tiết hơn so với quan điểm của Ricardo, lý thuyết của Heckscher-Ohlin giải thích nguồn gốc của lợi thế so sánh dựa trên sản phẩm khác nhau ở mức độ (tỷ 12 lệ) thâm dụng yếu tố sản xuất và các quốc gia có nguồn lực sản xuất sẵn có khác nhau (Leamer, 1995).
Trong các lý thuyết cổ điển, lý thuyết của Adam Smith, Ricardo và Heckscher- Ohlin giúp giải thích mô hình thương mại quốc tế đã diễn ra trong nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, mỗi lý thuyết đều tồn tại những hạn chế và phụ thuộc từng điều kiện cụ thể mới giải thích được. Với sự phát triển của thương mại quốc tế, Michael Porter đã đưa ra lý thuyết về “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” vào năm 1979, trong đó mô hình kim cương được dùng để giải thích những nhân tố cơ bản cho phép quốc gia (doanh nghiệp) sáng tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong điều kiện hiện nay. Trong khi quan điểm theo lợi thế so sánh chỉ bao gồm hai yếu tố là chất lượng và giá thành, lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào 4 nhân tố: chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và cạnh tranh nội bộ ngành, các điều kiện về cầu, ngành công nghiệp liên quan và bổ trợ, điều kiện về yếu tố sản xuất.