MỞ ĐẦU Đất đai là nguồn lực quan trọng của quá trình đô thị hoá, không chỉ để đáp ứng nhu cầu về mặt bằng cho sản xuất, mà còn là hàng hoá đặc biệt để khai thác nhằm tạo ra nguồn vốn đầu tƣ xây dựng và phát triển đô thị. Đất nƣớc ta đang phát triển trên đƣờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghiệp hóa và đô thị hóa là hai quá trình phát triển song song ở nƣớc ta hiện nay. Đô thị hóa là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và trở thành mục tiêu của mọi nền văn minh thế giới, nó góp phần thúc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân.
Trong xu thế quốc tế hóa, sản xuất ngày càng gia tăng, cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới diễn ra nhƣ vũ bão thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta trở thành vấn đề cấp bách để đƣa đất nƣớc chuyển sang một thời kỳ phát triển với mục tiêu lâu dài là cải biến nƣớc ta thành một nƣớc công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, mức sống vật chất và tinh thần cao, làm cho dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Một trong những chủ trƣơng quan trọng trong phát triển công nghiệp của Đảng ta là ra sức phát triển đô thị cùng với việc công nghiệp hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn; quan tâm đầu tƣ phát triển công nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng, giải quyết việc làm, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để các đô thị làm hạt nhân thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong vùng và trên cả nƣớc. Quá trình đô thị hóa ở nƣớc ta đã bƣớc đầu đem lại những thành quả, chẳng những đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống hiện đại mà còn tác động tích cực đến sự đổi mới bộ mặt và cuộc sống nông thôn. Sự phát triển đô thị và sự biến đổi của nông thôn trong quá trình đô thị hóa là hệ quả của sự tác động có tính chất nhân quả.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết nhƣ vấn đề sử dụng đất đai, lao động và việc làm của ngƣời nông dân, cách thức đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, dãn dân. Nhƣ vậy, đứng trƣớc tác động của đô thị 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa, chúng ta phải làm gì để hạn chế những ảnh hƣởng tiêu cực và chủ động phát huy tính tích cực của quá trình đô thị hóa, bảo đảm cho kinh tế nông thôn mà trong đó trọng tâm là kinh tế nông hộ phát triển hiệu quả và bền vững. Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới của đất nƣớc, tốc độ đô thị hóa của Thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là ở các quận ngoại thành diễn ra khá mạnh. Quận Bình Tân - một quận mới thành lập của Thành phố Hồ Chí Minh có quá trình đô thị hóa diễn ra khá sôi động làm cho đời sống của ngƣời dân đƣợc thay đổi và nâng cao.
Tuy nhiên theo xu hƣớng chung của thành phố, bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc thì quá trình đô thị hóa nhanh trên địa bàn quận đã làm đất đai biến động mạnh cả về mục đích sử dụng và đối tƣợng sử dụng, gây ra áp lực ngày càng lớn đối với đất nông nghiệp. Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, thay vào đó là các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị, khu dân cƣ, chung cƣ tăng lên. Việc quản lý, sử dụng đất trở nên phức tạp hơn. Giá cả đất đai trên thị trƣờng tăng cao và biến động phức tạp.
Ngoài ra, sự phát triển của đô thị đã thu hút lực lƣợng lao động lớn từ nông thôn ra thành thị, kéo theo sự bất ổn xã hội nhƣ: giải quyết việc làm, nhu cầu nhà ở, ô nhiễm môi trƣờng, tệ nạn xã hội…. Đô thị hóa là quá trình tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, phát triển kinh tế phải đi đôi với sử dụng đất hợp lý để mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả về môi trƣờng. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn quận Bình Tân, Tp.
Hồ Chí Minh" nhằm đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2013 và đề xuất một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả trong quá trình đô thị hóa. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Xác định đƣợc tình hình sử dụng đất và quá trình phát triển đô thị hóa cũng nhƣ sự biến động đất nông nghiệp trong quá trình phát triển đô thị hóa khu vực nghiên cứu. Đánh giá đƣợc sự ảnh hƣởng của quá trình đô thị hóa đến thay đổi sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn quận Bình Tân, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp bảo vệ và sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu phân tích ảnh hƣởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn quận Bình Tân làm cơ sở khoa học cho việc định hƣớng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn theo hƣớng phát triển bền vững.
Ý nghĩa thực tiễn: Việc đề xuất định hƣớng sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa sẽ làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý Nhà nƣớc về đất đai trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp đƣợc hiệu quả và đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của quận Bình Tân nói riêng, Tp. Hồ Chí Minh nói chung. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đô thị hóa và quá trình phát triển của đô thị 1.1 Khái niệm Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 [14] của Chính phủ quy định một đơn vị hành chính để đƣợc phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản nhƣ sau: Có chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
Quy mô dân số toàn đô thị đạt bốn nghìn ngƣời trở lên. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và đƣợc tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo các khu phố xây dựng tập trung. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động. Đạt đƣợc các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật).
Đạt đƣợc các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị. Đối với các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì các tiêu chí đánh giá đƣợc nới lỏng hơn: quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tƣơng đƣơng. Đối với một số đô thị có tính chất đặc thù, tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đạt quy 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định so với các loại đô thị tƣơng đƣơng và bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị. Nhƣ vậy, đô thị là sản phẩm của văn minh nhân loại phát triển đến một trình độ nhất định, là hình thức quần cƣ phức tạp xuất hiện trong quá trình đô thị hóa, nó phản ánh một cách tổng hợp quá trình và trình độ phát triển của xã hội [8].2 Phân loại đô thị Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 [14] của chính phủ chia các đô thị Việt Nam thành 6 loại gồm đô thị đặc biệt và các đô thị từ loại I đến loại V: - Đô thị loại đặc biệt: Giữ vai trò "trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lƣu trong nƣớc và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc.
Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu ngƣời trở lên.Mật độ dân số nội đô bình quân từ 15.000 ngƣời/km² trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 90% trở lên. Có cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh. Hiện ở Việt Nam có hai thành phố đƣợc chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt là thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, Hải Phòng cũng đang đƣợc xem xét là đô thị loại đặc biệt vào năm 2020, muộn nhất là 2025. - Đô thị loại I: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lƣu trong nƣớc và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nƣớc. Quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu ngƣời trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ƣơng và từ 500 nghìn ngƣời trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh. Mật độ dân số nội đô bình quân từ 12.000 ngƣời/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ƣơng và từ 10.000 ngƣời/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 85% trở lên. Có cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh. - Đô thị loại II: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lƣu trong 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.