Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về sâu sáp Sâu sáp (Galleria mellonella Linnaeus), là loài gây hại chính và có sức tàn phá nặng nè nhất đối với các loài ong, đặc biệt là ong vò vẽ (Mohamed va ctv, 2014). Sâu sáp gây hại nhiều ở các vùng ôn đới, nhiệt đới và cận nhiệt đới (Spangler, 1989). Các kết quả nghiên cứu cho rằng ấu trùng lấy chất dinh dưỡng từ mật ong, da nhộng, phan hoa, sáp và các chất khác có trong sáp ong (Jindra và Sehnal, 1989). Hiện nay, sâu sáp đã được sử dụng dé sàng lọc nghiên cứu các chủng vi khuẩn, nam và xác định các gen liên quan đến quá trình sinh bệnh hoặc các hợp chất điều trị ở người.
Nghiên cứu vào mục đích y học, ấu trùng sâu sáp được sử dụng rộng rãi dé nghiên cứu các mầm bệnh ở người, đặc biệt là các vi khuẩn như Staphylococcus aureus, Proteus vulgaris, Serratia marcescens, Pseudomonas aeruginosa, Listeria monocytogenes va Enterococcus faecalis (Chadwick, 1990; Thomas, 2013). Ngoài ra, au trùng sâu sáp cũng được sử dung rộng rãi dé nghiên cứu nhiễm nam như: Cryptococcus neoformans, Aspergillus fumigatus va Candida albicans (Brennan, 2002; Mylonakis, 2005; Slater, 2011; Gomez-Lopez, 2014). Nghiên cứu vào mục đích nông nghiệp, nhiều kết quả nghiên cứu cho thay ấu trùng sâu sáp cần thiết dé nuôi nhiều côn trùng thiên địch như: Microplitis spp. và Bracon hepetor (Shah Alam va ctv, 2016).1 Nguồn gốc và phân bố Sâu sáp lần đầu tiên được phát hiện trong các tổ mật của ong mật (Apis cerana) ở khu vực Châu Á, sau đó lan rộng đến miền Bắc Châu Phi, một số khu vực của Châu Âu, Bắc Mỹ, Vương quốc Anh và New Zealand (Paddock, 1918).
Ngày nay, sự hiện diện của loài sâu sáp đã được xác nhận ở 27 quốc gia Châu Phi (Pirk, 2015), 9 quốc gia Châu A (Al-Ghamd, 1990; Gulat, 2004; Chantawannakul, 2016), 10 quốc gia Châu Âu 3 (Base, 2016), 5 quốc gia Bắc Mỹ (Shimanuki, 1980; Williams, 1997), 3 quốc gia Mỹ Latinh (Eischen, 1986), Úc (White, 2004) và 5 quốc đảo (Anderson, 1990). Mặc dù có một số vùng hiện không có dịch hại, nhưng một nghiên cứu điển hình gần đây ở Kenya sử dụng các mô hình dự đoán nhận thây sự phân bô tiêm ân của sâu sáp trong tương lai.1 Phân bố của sâu sáp (G.2 Đặc điểm hình thái, sinh học sâu sáp (G.1 Đặc điểm hình thái Trứng Trứng sâu sáp có hình gần giống hình cầu và có màu trắng xương (Smith, 1965), theo Hosamani (2017) trứng sâu sáp rất nhỏ, hình elip và có màu trắng, trứng sẽ chuyển sang màu kem khi tiếp xúc với không khí. Trứng sâu sáp có bề mặt hoa văn hình lục giác rất nhỏ, những dấu hiệu này có thê là dấu ấn do các tế bào trên thành nang trứng tạo ra (Snodgrass, 1935; Comstock, 1940). Ngoài vỏ trứng thường có một lớp màng chất giống như keo giúp trứng dính vào bề mặt hoặc dính vào nhau (Smith, 1965).
Kích thước chiều dài và chiều rộng của trứng được các nhà nghiên cứu đưa ra là tương tự nhau: theo Swamy và ctv (2008) là 0,44 và 0,29 mm, chiều dài từ 0,44 - 0,47 mm và chiều rộng từ 0,29 - 0,39 mm (Ellis và ctv, 2013), theo Hosamani và ctv (2017) chiều dài trứng là 0,44 mm và chiều rộng trứng là 0,30 mm, theo Kawdha và ctv (2017) nghiên cứu chiều đài, chiều rộng lần lượt là 0,47 và 0,39 mm. Theo Desai (2019), thời gian trứng sâu sáp nở chủ yếu vào buổi sáng từ 8 giờ 30 đến 11 giờ 00. Vào khoảng 4 ngày trước khi trứng nở, có thé quan sát thay 1 cham nhỏ màu đen bên trong trứng đó là đầu của sâu sáp. Mười hai giờ trước khi trứng nở, ấu trùng hình thành hoàn chỉnh va có thé nhìn thấy qua lớp vỏ mỏng (Paddock, 1918).
Trứng sẽ không tồn tại trong điều kiện cực lạnh (ở hoặc dưới 0°C trong 4,5 giờ) hoặc nhiệt độ quá cao (bằng hoặc trên 46°C trong 70 phút). Au trùng Khi mới nở, ấu trùng sâu sáp rất nhỏ màu trang, chiều dài khoảng 1 - 3 mm và chiều rộng khoảng 0,12 - 0,15 mm. Sau khi phát triển hoàn chỉnh, ngay trước khi au trùng sâu sáp thành nhộng, ấu trùng có thể đạt chiều dài từ 25 - 30 mm và chiều rộng từ 5 - 7 mm (Smith, 1965). Trong quá trình phát triển, ấu trùng sâu sáp chuyền sang màu trắng xám và từ giai đoạn ấu trùng thứ ba trở đi, cơ thé của ấu trùng bắt đầu dày lên một cách dễ thấy, trở nên to lớn và chắc chắn vào cuối giai đoạn phát triển (Fasasi và Malaka, 2006; Ellis và ctv, 2013).
Co thé của ấu trùng sâu sáp có cấu trúc giống như 1 cái ống dé dự trữ và tiêu hóa thức ăn, cơ thé của ấu trùng sâu sáp bao gồm: đầu, ngực ba phân đoạn và bụng gồm 11 đốt (Ellis và ctv, 2013). Đầu hơi nhọn, nhỏ và hơi đỏ với một đường hình chữ “v” mở ra phía trước đầu (Paddock, 1918). Trên đầu có một cặp râu ngắn, cặp râu miệng nhai và bốn râu ở mỗi bên, râu có màu sáng trắng, hình bầu dục và cách xa nhau (Ellis và ctv, 2013). Ba cặp chân của bốn khớp chân ngực thường bị xơ cứng, đầu cuối của mỗi chân có một móc hoặc móng vuốt có ngạnh (Smith, 1965).
Chân ngực phát triển tốt khi ấu trùng mới xuất hiện nhưng chân bụng không thê nhìn thấy cho đến khi ấu trùng được khoảng 3 ngày tuôi. Trên đoạn bụng thứ mười của sâu sáp là đĩa đệm lớn, đoạn bụng thứ mười một có một cặp đĩa đệm hậu môn và một đôi ống hậu môn nằm ở bên và có hình bán nguyệt, lỗ hậu môn nằm giữa các ống hậu môn (Smith, 1965). Ở giai đoạn cudi của au trùng, màu sắc của ấu trùng thé hiện rõ nhất (màu nâu) và có một đường sinh thái sáng có thé nhìn thấy doc theo giữa mặt lưng ấu trùng (đặc biệt được đánh dau rõ trên phần thân) (Kwadha và ctv, 2017).2 Hình thái ấu trùng sâu sáp (G. I: mặt lung; II: mat bung; III: mặt bên A: phan dau; B: phan nguc; C: phan bung; D: râu; E: miệng nhai; F: cặp chan ngực; G: vuốt; H: đôi chan; I: ống hậu môn; J: gai; K: gai bung; L: gai bụng đoạn VIII.
Nhộng Sau khi hoàn thành giai đoạn ấu trùng, ấu trùng sâu sáp sẽ tạo ra tơ bằng cách sử dụng các tuyến nước bot từ một ống trong ống tơ, trông giống như môi dưới của ấu trùng và chứa bộ máy kéo tơ. Loại tơ này được dung dé làm kén và thường được làm khô khi 6 tiếp xúc với không khí (Singkum, 2018). Kén do ấu trùng sâu sáp tạo ra có màu trắng, hình bầu dục, cứng, nhiều da và sau đó ấu trùng tạo một lỗ thoát ở phía đầu của kén, mục đích cho thành trùng sâu sáp thoát ra sau khi vũ hóa (Dasai, 2019). Chiều dai của kén thay đổi từ 22,23 - 33,50 mm và giá trị trung bình là 27,29 + 2,74 mm, trong khi đó chiều rộng của kén thay đồi từ 4,56 - 5,94 mm và gia tri trung bình là 5,24 + 0,43 mm (Desai, 2019) và những kết qua nay tương tự như kết qua của Pastagia và Petel (2007), Swamy va ctv (2008), Ellis và ctv (2012), Hosamani va ctv (2017).3 Các đặc điểm phân biệt giới tính nhộng sâu sáp (G.
mellonella) (Charles, 2017) A: Nhộng cái; B: Nhộng đực Sau khi tạo kén, cơ thé ấu trùng hơi co lại và sẽ ngừng hoạt động vài giờ trước khi hóa nhộng, được gọi là giai đoạn tiền hóa nhộng. Bên trong lớp tơ kén, nhộng mới hình thành 1 ngày tuổi có màu vàng nhạt và mén, sau 4 ngày nhộng chuyên sang màu nâu nhạt và chuyên sang màu nâu vào cuối pha nhộng (Paddock, 1918). Nhộng đực của sâu sáp thường nhỏ hơn nhộng cái. Theo Desai (2019) chiều dài và chiều rộng trung bình nhộng đực của sâu sáp lần lượt là 11,86 + 0,84 mm và 3,17 + 0,36 mm, chiều dài và chiều rộng trung bình nhộng cái của sâu sáp lần lượt là 15,83 + 0,97 mm và 4,17 + 0,27 mm.
Nhộng đực có một cặp núm tròn nhỏ ở phía đuôi đại diện cho nắp gai giao phối, nhộng cái có 1 khe nhỏ ở phía đuôi tạo thành lỗ giao phối. T Thành trùng Thành trùng sâu sáp sẽ không kiếm thức ăn và có thể tồn tại vào cả ban đêm và ban ngày (trong khu vực ánh sáng yếu) vì nó miễn cưỡng tiếp xúc với ánh sáng. Theo nghiên cứu của El-Sawaf (1950) thành trùng đực sống lâu hơn (21 - 30 ngày) so với thành trùng cái (8 - 15 ngày), theo Swamy (2008) thời gian trung bình của thành trùng đực là 16,40 + 2,69 ngày và thời gian trung bình của thành trùng cái là 6,88 + 0,70 ngày. Thanh trùng cái sâu sáp có chiều dài cơ thé trung bình 15 - 20 mm, sai cánh 31 mm va trọng lượng 0,169 g (Wiliam, 1997), thành trùng đực sâu sáp có kích thước nhỏ hon và có màu ít sâm hơn so với thành trùng cái.4 Các đặc điểm phân biệt giới tính và kích thước thành trùng sâu sáp (G.
Thành trùng cái có rìa cánh trước gần như thắng trái ngược với rìa cánh hình sò của thành trùng đực (Smith, 1965). Ngoài ra, thành trùng cái có vòm miệng nhô về phía trước, trong khi ở thành trùng đực có vòm miệng cong mạnh lên trên và móc vao trong (Smith, 1965; Wiliam, 1997). Cả thành trùng đực và thành trùng cái đều có cùng một loại râu đầu, đạng sợi, chỉ khác nhau về số lượng giữa các đoạn của thành trùng (40 - 50 ở con đực và 50 - 60 ở con cái) (Leyrer, 1973), thành trùng cái có ba giai đoạn: tiền đẻ trứng (1,60 + 0,50 ngày), § thời gian đẻ trứng (6,12 + 1,09 ngày) và giai đoạn sau đẻ trứng (2,00 + 0,87 ngày) (Desai và ctv, 2019).2 Đặc điểm sinh học Hành vi giao phối Thành trùng đực thu hút thành trùng cái bằng cách quạt cánh phát ra pheromone gồm hai thành phần (n-nonanal + n-undecanal) và ngoài ra còn phát ra các xung âm thanh ngắn ở tần số 75 kHz, điều đó đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn các cặp thành trùng giao phối với nhau (Finn và Payne, 1977; Greenfield, 1981). Thành trùng cái phản ứng với âm thanh của thành trùng đực bằng cách quạt cánh (Spangler, 1988).
Điều đặc biệt âm thanh thu hút thành trùng không bao giờ được tạo ra khi có sự hiện diện của các vật chủ tự nhiên của sâu sáp (ong mật). Sau khi giao phối, thành trùng cái thường đẻ trứng thành từng cụm trong các khe hẹp (Smith, 1965). Khả năng sinh sản Quá trình thành trùng cái đẻ trứng tương đối ngắn sau khi thành trùng vũ hóa và giao phối (Paddock, 1918).