chương 1 Luận văn trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu của luận văn, giới thiệu tổng quan các vấn đề liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Một số khái niệm 2.1 Cấu trúc vốn của DN Cấu trúc vốn của DN là nói đến nguồn vốn của một doanh nghiệp tài trợ cho số tài sản của nó và hỗn hợp vốn sở hữu và nợ (Brounen và cộng sự, 2006). Theo Trần Ngọc Thơ trong cuốn sách Tài chính DN hiện đại (2003) thì “Cấu trúc vốn là sự kết hợp số lượng nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp. Ngược lại, cấu trúc tài chính là sự kết hợp nợ vay ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp”. Cấu trúc vốn có thể được đo bằng nhiều cách khác nhau: Nợ dài hạn trên tổng số tài sản; Nợ ngắn hạn trên tổng số tài sản và Tổng nợ trên tổng tài sản (Cespedes và cộng sự, 2010; Chakraborty, 2010; Kayo và Kimura, 2011; Pandey, 2001, Phan Thi Bich Nguyet và cộng sự, 2017).
Ngoài ra, mỗi tỉ lệ nợ có thể được xác định bằng giá trị sổ sách hoặc giá trị thị trường để đo lường cấu trúc vốn. Cụ thể, các tỉ lệ tổng nợ trên giá trị sổ sách của tổng tài sản được sử dụng chủ yếu hơn các tỉ lệ khác. Từ đó cho thấy, với cách đo lường theo giá sổ sách và đo lường theo giá thị trường sẽ có thể cho những kết quả khác nhau, khiến cho DN có những hình dung khác nhau về cấu trúc vốn và sẽ cân nhắc hoạch định cấu trúc vốn theo giá nào.2 Hiệu quả của doanh nghiệp Hiệu quả của doanh nghiệp có thể hiểu là hiệu quả kinh doanh của DN, thể hiện mối quan hệ tương đối giữa kết quả kinh doanh và phương tiện tạo ra kết quả. Chính vì vậy nên chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, kết quả kinh doanh thường là lợi nhuận hoặc doanh thu, trong đó có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu lợi nhuận (lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận kế toán trước thuế và lãi vay, lợi nhuận thuần của hoạt động kinh doanh, lợi nhuận gộp).
Phương tiện tạo ra kết quả cũng được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như tài sản (tổng tài sản, từng loại tài sản), tổng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu, chi phí, thậm chí là doanh thu (trong trường hợp kết quả kinh doanh thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận). Do có nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh cũng như phương tiện tạo ra kết quả kinh doanh đó nên có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và mỗi chỉ tiêu đó sẽ có một mức ý nghĩa nhất định. Thông thường có 3 cách để đo hiệu quả DN được sử dụng: (1) Tỉ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA); (2) Tỉ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), dựa trên nghiên cứu của Jiraporn và Liu (2008) và Tian và Zeitun (2007); và (3) Tobin’s Q, dựa trên nghiên cứu của Nigel và Sarmistha (2007) và King và Santor (2008). Trong khi Tobin’s Q được sử dụng để nắm bắt hiệu quả thị trường của DN thì ROA và ROE được sử dụng để trình bày hiệu quả kế toán.
Chỉ số thang Tobin’s Q được tính toán như giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của công ty. Giá trị thị trường của DN chứa giá trị thị trường của nợ và của giá trị thị trường của vốn sở hữu. Giá trị thị trường của nợ có thể được xem xét bởi giá trị sổ sách, trong khi vốn hóa thị trường hiện tại của vốn sở hữu được sử dụng như giá trị thị trường của cổ phần. Tỉ số ROA (Return on total assets) thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh.
Đây là một chỉ tiêu khá toàn diện trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, thể hiện mỗi đồng tài sản được sử dụng trong hoạt động kinh doanh có thể mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Độ lớn của chỉ tiêu này cao thể hiện hiệu quả trong sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Tỉ suất sinh lời trên tài sản thường được coi là một tiêu chí đánh giá sự thành công trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tính toán bằng cách chia lợi nhuận ròng cho tổng tài sản. Tỉ số ROE (Return on Equity) thể hiện hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này được các chủ sở hữu (các nhà đầu tư) đặc biệt quan tâm do phản ánh trực tiếp mỗi đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Do đó, các chủ sở hữu khi thuê các nhà quản lý trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường đưa ra các điều khoản cụ thể yêu cầu duy trì hoặc tăng trưởng tỉ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu ROE được tính toán bằng cách chia lợi nhuận ròng cho tổng vốn sở hữu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả của DN qua các lý thuyết Sự lựa chọn giữa nợ và vốn chủ sở hữu là gì và chúng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Đó là một chủ đề chính trong lý thuyết tài chính kể từ khi Modigliani và Miller (1958) đã công bố rằng cơ cấu vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Tuy nhiên, sau đó Modigliani và Miller (1963) và cả Jang và cộng sự (2008) đã đảo ngược khẳng định này, khi cho rằng giá trị doanh nghiệp được tối đa hóa khi DN được tài trợ hoàn toàn bằng nợ. Vấn đề đặt ra: bản chất của mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả DN là gì? Các tranh luận về chủ đề này dựa trên sự xem xét bốn lý thuyết: lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết đại diện và lý thuyết định thời điểm thị trường: (1) Lý thuyết đánh đổi (Trade - Off Theory) Lý thuyết đánh đổi cho rằng có một mức cấu trúc vốn tối ưu để giá trị doanh nghiệp được tối đa hóa. Tại điểm tối ưu, lợi nhuận biên của nợ bằng chi phí biên của nợ và hiệu quả công ty được tối đa hóa (Tang và Jang, 2007; Jang và cộng sự, 2008). So với huy động nguốn vốn từ vốn sở hữu, thì việc tài trợ bằng nợ sẽ rẻ hơn vì nó được khấu trừ từ tấm chắn thuế.
Mặc dù vậy, việc sử dụng nợ quá mức hay lạm dụng nợ có thể sẽ gây ra rủi ro cho DN do khả năng phá sản lúc bấy giờ gia tăng cao hơn. Theo lý thuyết đánh đổi, với lập luận rằng các công ty đặt ra một tỷ lệ nợ mục tiêu tối ưu được xác định bởi đánh đổi giữa lợi ích (khấu trừ thuế) và chi phí nợ (chi phí phá sản) nên DN cần cân nhắc thận trọng. Một số nghiên cứu thực nghiệm đã dày công nghiên cứu để tìm ra các yếu tố quyết định cấu trúc vốn bằng lý thuyết đánh đổi, bao gồm cả những nghiên cứu của Ferri và Jones (1979), Castanias (1983), và Tang và Jang (2007). Bradley và cộng sự.
Bên cạnh đó còn xem xét lý thuyết và bằng chứng của giả thuyết đánh đổi. Dựa theo nguyên lý của thuyết này, Kester (1986), Titman và Wessels (1988), và Rajan và Zingales (1995) đã tìm thấy sự ủng hộ mạnh mẽ cho một mối quan hệ tiêu cực giữa đòn bẩy và hiệu quả DN. (2) Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) Giả thuyết của lý thuyết này cho rằng: Các nhà đầu tư bên ngoài và nhà quản lý có cùng một nguồn thông tin về doanh nghiệp, được gọi là thông tin cân xứng. Tuy nhiên, trên thực tế nhà quản lý thường có thông tin tốt hơn so với các nhà đầu tư bên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 ngoài, lúc này được gọi là thông tin bất cân xứng.
Các nguồn thông tin này ít nhiều sẽ tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Cũng theo Myers và cộng sự (1984), chênh lệch thông tin sẽ làm cho vốn chủ sở hữu bị đánh giá sai trên thị trường, điều này làm cho tài sản của các cổ đông bị tổn thất hay bị đánh giá cao. Nếu doanh nghiệp tài trợ dự án mới bằng cách phát hành cổ phiếu thì thông thường các cổ phiếu này sẽ bị định giá thấp do các nhà quản lý có thể không thể truyền đạt hết triển vọng tươi sáng cho các nhà đầu tư tiềm năng. Kết quả là các nhà đầu tư bên ngoài không phân biệt được giữa dự án tốt và dự án xấu, cho nên họ xem việc doanh nghiệp phát hành cổ phiếu mới là tín hiệu xấu và họ yêu cầu một phần bù cho giá trị đầu tư, dẫn đến doanh nghiệp chỉ có thể phát hành cổ phiếu với mức giá thấp.
Theo Asquith và cộng sự (1986), khi doanh nghiệp công bố thông tin rằng; Họ sẽ phát hành cổ phiếu, thông thường sẽ pha loãng giá cổ phiếu dẫn đến giá cổ phiếu sẽ sụt giảm và làm giá trị vốn hóa thị trường trước khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu. Do vậy, doanh nghiệp có thể sẽ lựa chọn tài trợ dự án mới bằng nợ vay. So với vốn chủ sở hữu, nợ vay sẽ ít bị đánh giá thấp hơn; Điều này là do các hợp đồng vay nợ đã giới hạn khả năng thua lỗ của trái chủ nên sẽ an toàn hơn. Ngoài ra, cũng theo Myers và cộng sự (1984), các nhà quản lý có khuynh hướng phát hành cổ phiếu khi doanh nghiệp được định giá cao và ngược lại sẽ vay nợ khi bị định giá thấp.
Doanh nghiệp cũng huy động vốn chủ sở hữu từ bên ngoài khi chi phí kiệt quệ tài chính cao và ngược lại doanh nghiệp sẽ vay nợ khi chi phí kiệt quệ tài chính thấp. Bên cạnh đó, theo Eckbo (1986) và Sunder (1999), doanh nghiệp có thể phát hành nợ hoặc vốn chủ sở hữu để tài trợ cho đầu tư mới với điều kiện nợ phải được nợ phải được đảm bảo bằng tài sản và lợi nhuận.