CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI Chăn nuôi dê đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, thu nhập, bảo quản nguồn vốn và cải thiện dinh dưỡng hộ gia đình. Chăn nuôi dê có vai trò quan trong để cung cấp thịt, sữa, tạo nguồn thu nhập cho nông dân. Con dê là một loại gia súc nhai lại có kích thước cơ thể nhỏ, được nuôi từ lâu đời và đem lại nhiều lợi ích cho người chăn nuôi. Thức ăn của dê chủ yếu là rau, cỏ và phụ phẩm nông nghiệp – công nghiệp, nên rất ít cạnh tranh thức ăn với loài dạ dày đơn và con người (Sharifi, 2013).
Chăn nuôi dê được xem là một hướng đi mới trong chăn nuôi qua khảo sát tại An Giang là Bách Thảo, Saanen x Bách Thảo và Saanen x Boer (Nguyen Binh Truong và cs. Kết quả này từ chương trình hỗ trợ con giống giúp phát triển chăn nuôi dê nông hộ và sự phát triển tự phát của người dân theo nhu cầu thị trường đã tạo nên một sự thay đổi về giống dê. Chăn nuôi dê từ sự tận dụng phụ phẩm nông nghiệp là chính, nhưng sự phát triển trở lại của đàn dê trong tỷnh đang đặt ra nhu cầu về giống, nguồn thức ăn và kỹ thuật nuôi để đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu. Carbohydrate là thành phần chính cung cấp năng lượng cho gia súc nhai lại bao gồm phần hòa tan (non fiber carbohydrate, NFC) và không hòa tan (neutral detergent fiber, NDF).
Nếu NDF đóng một vai trò quan trọng trong tiêu thụ chất khô (DMI), khả năng tiêu hóa thức ăn thì NFC trong khẩu phần ăn là một yếu tố khác ảnh hưởng đến DMI. Theo Villalba và cs. (2021) đã kết luận về các can thiệp làm tăng nồng độ NFC trong cây họ đậu có thể tăng năng suất và hiệu quả sử dụng nitơ của động vật nhai lại trong khi giảm tác động đến môi trường. So với NDF, tỷ lệ tiêu hóa NFC đạt đến 90%, cung cấp các acid béo bay hơi (VFA) là nguồn năng lượng cho gia súc nhai lại (Nugroho và cs.
Kết quả bước đầu nghiên cứu của Nguyễn Bình Trường & Nguyễn Văn Thu (2021) chứng minh các nguồn NDF từ thức ăn thô có ảnh hưởng khác nhau đến sự sản sinh khí mêtan, tuy nhiên nó chịu tác động lớn hơn đối với NFC theo phương trình CH4-72h = 0,704 NFC + 0,421 NDF + 0,218 ADF + 0,390 CP + 0,128 EE – 42,4 (R2 = 99,9). Mức NFC/NDF trên dê địa phương giống Bách Thảo, qua nghiên cứu của Phong & Thu (2018) ghi nhận là 0,32-0,89 khi sử dụng bắp cải phụ phẩm kết hợp với cỏ lông tây. Bên cạnh đó, Thanh & Tin (2018) sử dụng chất nền là cỏ lông tây kết hợp với thức ăn hỗn hợp và bổ sung dầu thì mức NFC/NDF là 0,62. Theo Wei và cs.
(2019) báo cáo sự gia tăng mức NFC/NDF trong khẩu phần thì pH 1 giảm đáng kể, hơn nữa thành phần của hệ vi sinh vật dạ cỏ cũng thay đổi và tổng số lượng vi khuẩn trong dạ cỏ giảm ở dê. Sự phát triển của kỹ thuật in vitro gas giúp cho việc nghiên cứu tiêu hóa và sinh khí mêtan từ hệ vi sinh vật dạ cỏ của gia súc trở nên thuận lợi hơn. Do đó, giả thuyết của nghiên cứu là sự khác nhau giữa các mức NFC/NDF sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất thức ăn và lượng khí mêtan sinh ra trên dê.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI Xác định mức NFC/NDF tối ưu đối với lượng khí mêtan sinh ra trong điều kiện in vitro. Xác định mức NFC/NDF phù hợp cho lượng dưỡng chất tiêu thụ và tiêu hóa của dê thịt.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các mức NFC/NDF và nhóm giống dê lai Boer.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Ảnh hưởng mức NFC/NDF đến tiêu hóa chất hữu cơ và sinh khí mêtan trong điều kiện in vitro.
Ảnh hưởng mức NFC/NDF đến tiêu thụ và tiêu hóa dưỡng chất thức ăn dê lai Boer.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được mức NFC/NDF là 1,2 phù hợp cho chăn nuôi dê lai Boer đảm bảo khả năng tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất và hạn chết phát thải khí mêtan. Các kết quả của đề tài là những tài liệu khoa học để tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy cho các nhà nghiên cứu, giáo viên và sinh viên đại học. 2 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Phát triển chăn nuôi được xem như một ngành nghề truyền thống diễn ra tại nhiều địa phương trong cả nước. So với nhóm gia súc độc vị thì gia súc ăn cỏ chiếm ưu thế hơn khi so sánh về góc độ tận dụng nguồn thức ăn thô.
Điều đó thể hiện, nhóm gia súc ăn cỏ sử dụng nguồn thức ăn ngủ cốc giới hạn hơn so với nhóm gia súc độc vị. Vì vậy, nguồn thức ăn bổ không ít cạnh tranh với nguồn thức ăn so với gia súc độc vị và con người. Phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại như trâu, bò, dê và cừu thì chăn nuôi dê chiếm ưu thế hơn trong điều kiện hiện tại đang diễn ra tại vùng Đồng Bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu về dinh dưỡng khẩu phần của gia súc hay nói một cách khác là chăn nuôi theo khoa học thì phải phân tích được thành phần hóa học thức ăn trong khẩu phần.
Carbohydrate là thành phần chính của nhiều loại thức ăn cho gia súc nhai lại, quá trình tiêu hóa carbohydrate trong dạ cỏ cung cấp năng lượng cho vật chủ nhưng góp phần thải khí mêtan ra môi trường (Sun và cs. Tuy nhiên, sự đa dạng của carbohydrate tích lũy trong phần chồi của thức ăn thô xanh khá phức tạp về thành phần hóa học. Do đó, phân biệt các carbohydrate NFC dễ tiêu hóa so với cellulose và hemicellulose tiêu hóa chậm hay là NDF nên một số tác giả đề cập đến NFC bằng thuật ngữ mới là cacbohydrat hòa tan trong chất tẩy rửa trung tính (NDSC) theo báo cáo từ Villalba và cs. Sự phát triển các hướng nghiên cứu gần đây là sự bổ sung các nguồn carbohydrate hòa tan nhằm giảm lượng khí thải.
Kết quả nghiên cứu dinh dưỡng khẩu phần là sự kết hợp giá trị dưỡng chất từ thức ăn thô và thức ăn bổ sung. Do đó, giả thuyết rằng lượng NFC khẩu phần là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu thụ và tiêu hóa trên gia súc.1 Nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu ảnh hưởng do tỷ lệ carbohydrate không chứa chất xơ (NFC) và chất xơ không hòa tan trong thuốc tẩy trung tính (NDF) được Jin và cs. (2021) thực hiện bằng phương pháp in vitro khí. Sự tăng dần của bắp trong khẩu phần để đạt mức NFC/NDF tăng từ 2,0 đến 3,0 đã thể hiện lượng khí thải tăng tương ứng.
Theo Sun và cs. (2021) carbohydrate ảnh hưởng đến nồng độ hòa tan, làm tác động đến quá trình lên men dạ cỏ và cuối cùng đã dẫn đến sự khác biệt về lượng khí thải CH4. Theo Pinho và cs. (2019) thì các mức NFC dường như đóng một vai trò nhất quán đối với hệ vi sinh vật dạ cỏ trong quá trình lên men trong 3 điều kiện in vitro.
Qua kết quả nghiên cứu của Liu và cs. (2013) về mức NFC đối với NDF tăng từ 1,02 đến 2,58 đã thể hiện sự thay đổi đáng kể về thông số dạ cỏ của dê, cụ thể là sự gia tăng tổng số acid béo bay hơi nên giá trị pH giảm. Bên cạnh đó, Villalba và cs. (2021) nhận định rằng các can thiệp về di truyền hay cách quản lý hoặc các điều kiện sinh thái làm tăng nồng độ NFC trong cây họ đậu, điều đó có thể nâng cao sản lượng, chất lượng thịt và hiệu quả sử dụng nitơ của động vật nhai lại đồng thời giảm tác động đến môi trường.2 Nghiên cứu trong nước Các nghiên cứu trong nước về tỷ lệ NFC/NDF ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh trưởng và tiêu hóa của vật nuôi chưa thể hiện qua các báo cáo khoa học.
Kết quả của Nguyễn Đức Ngọc An Như và cs. (2016) nghiên cứu về bắp, tấm và khoai mì lát là góc nhìn từ nguồn thức ăn bổ sung. Đây cũng là cơ sở cho việc tham khảo khả năng sinh sính metan khi sử dụng các loại phụ phẩm khác nhau. Bên cạnh đó, đánh giá từ các nguồn thức ăn thô đến tiêu hóa và sinh khí với báo cáo của Nguyễn Bình Trường & Nguyễn Văn Thu (2021) ghi nhận vai trò của NFC tác động lớn hơn NDF đến tiêu hóa và sinh khí trong điều kiện in vitro.
Phân tích tổng hợp lại các mức NFC/NDF đối với giống dê Bách Thảo, báo cáo của Phong & Thu (2018) về sử dụng bắp cải phụ phẩm kết hợp với cỏ lông tây trong khẩu phần thì mức NFC/NDF ghi nhận là 0,32-0,89. Mức NFC tăng lên có xu hướng cải thiện khả năng tiêu thụ thức ăn và tiêu hóa dưỡng chất trên dê. Cùng nghiên cứu về dinh dưỡng khẩu phần, Thanh & Tin (2018) sử dụng thức ăn hỗn hợp và bổ sung dầu trên chất nền là cỏ lông tây với mức NFC/NDF là 0,62. Bên cạnh đó, Huyen và cs.
(2023) báo cáo kết quả về lượng khí mêtan sinh ra thời điểm 72h sau khi ủ của một số loại thức ăn như sau Bảng 1: Lượng khí CH4 sinh ra tính trên lượng OM thời điểm 72h Thức ăn OM CP NDF ADF CH4, ml/g OM Cỏ voi 85,6 10,9 70,0 37,5 42,7 VA 06 91,4 3,50 70,1 41,5 39,9 Mulato II 92,7 9,70 71,6 41,6 34,2 Cỏ long tây 86,8 9,30 3,19 67,6 36,0 2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Dê kiêm dụng Bách Thảo Là giống dê kiêm dụng sữa thịt, cho dến nay có nhiều ý kiến về nguồn gốc của nó. Có tác giả cho rằng dê Bách Thảo có nguồn gốc từ Ấn Độ, một số tác giả khác cho rằng giống dê này có nguồn gốc từ quá trình lai tạo giữa dê sữa châu Âu (British-Alpine từ Pháp) với dê sữa Ấn Độ đã được nhập vào nước ta và 4 nuôi dưỡng qua hơn một trăm năm nay. Giống dê này được nuôi nhiều ở các tỷnh phía nam, trong đó nhiều nhất là ở Ninh Thuận. Do có những ưu điểm tốt hiện nay dê Bách Thảo đang được phát triển đại trà trong sản xuất trên phạm vi cả nước.
Dê có đặc điểm: Màu lông khá đồng nhất, chủ yếu là màu lông đen hoặc đen sọc trắng, lông sáng bóng mượt, tai to cụp xuống, một số không có sừng, tầm vóc to, phần lớn dê không có râu ở cằm. Kết cấu cơ thể theo hướng cho sữa, bầu vú hình bát úp, núm vú dài 4-6 cm.