Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của các nồng độ và thời điểm xử lý acid humic đến sinh trưởng năng suất và hoạt tính enzyme ascorbate peroxidase giống lúa st24 trong điều kiện mặn nhân tạo

Khóa luận tốt nghiệp nông học nghiên cứu ảnh hưởng acid humic đến sinh trưởng, năng suất và hoạt tính enzyme ascorbate peroxidase giống lúa ST24 trong điều kiện mặn nhân tạo.

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

100
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu về cây lúa

1.2. Đặc điểm sinh thái và sinh trưởng của cây lúa

1.3. Tình hình đội trồng

1.4. Ảnh hưởng của mặn đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa

1.5. Một số nghiên cứu về tác động và khả năng chịu mặn của cây lúa trên thế giới và Việt Nam

1.6. Giới thiệu chung về Acid Humic và một số nghiên cứu về ảnh hưởng của acid humic đến sinh trưởng và năng suất cây trồng trong điều kiện mặn

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Điều kiện khí hậu thời tiết

2.3. Phương pháp thí nghiệm

2.3.1. Bố trí thí nghiệm

2.3.2. Cách tiến hành

2.3.3. Chuẩn bị

2.3.4. Quản lý trồng trọt

2.3.5. Phòng trừ sâu bệnh hại

2.4. Chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng

2.5. Chỉ tiêu về năng suất

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả đánh giá ảnh hưởng của nồng độ acid humic với từng thời điểm khác nhau khi xử lý mặn đến sinh trưởng của giống lúa ST24 trong điều kiện nhà lưới

3.1.1. Ảnh hưởng của nồng độ xử lý acid humic và thời điểm xử lý acid humic đến sự sinh trưởng và phát triển của giống lúa ST24 khi bị nhiễm mặn

3.1.1.1. Ảnh hưởng đối với chiều cao cây của giống lúa ST24
3.1.1.2. Ảnh hưởng đối với số lá/cây (lá) của giống lúa ST24
3.1.1.3. Ảnh hưởng đối với số nhánh/cây (nhánh) của giống lúa ST24
3.1.1.4. Ảnh hưởng đối với chỉ số diệp lục của giống lúa ST24

3.1.2. Ảnh hưởng đối với enzyme ascorbate peroxidase (APX) của giống lúa ST24

3.1.3. Ảnh hưởng đối với enzyme catalase của giống lúa ST24

3.2. Ảnh hưởng của nồng độ xử lý acid humic và thời điểm xử lý acid humic đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa ST24 trong điều kiện bị xử lý nhiễm mặn

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của acid humic đến sinh trưởng lúa ST24

Acid humic đã được chứng minh có tác động tích cực đến sinh trưởng lúa ST24 trong điều kiện mặn. Các thí nghiệm cho thấy việc xử lý acid humic ở các nồng độ 0,2%, 0,4% và 0,6% đều cải thiện đáng kể chiều cao cây, số lá và số nhánh so với đối chứng không xử lý. Đặc biệt, nồng độ 0,6% tại thời điểm 4 ngày trước xử lý mặn cho kết quả tốt nhất. Acid humic không chỉ giúp cây lúa thích nghi với điều kiện mặn mà còn tăng cường khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng, từ đó thúc đẩy sinh trưởng.

1.1. Cải thiện chiều cao và số lá

Khi được xử lý acid humic, chiều cao cây lúa ST24 tăng đáng kể, đạt mức cao nhất ở nồng độ 0,6%. Số lá trên cây cũng tăng, cho thấy acid humic có khả năng kích thích quá trình quang hợp và phát triển thân lá. Điều này giúp cây lúa tăng cường khả năng chống chịu với điều kiện mặn.

1.2. Tăng số nhánh

Số nhánh trên cây lúa ST24 cũng được cải thiện rõ rệt khi xử lý acid humic. Điều này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn tăng khả năng chống chịu với stress mặn, nhờ vào việc phân bố đều chất dinh dưỡng và nước trong cây.

II. Ảnh hưởng của acid humic đến năng suất lúa ST24

Năng suất lúa ST24 được cải thiện đáng kể khi xử lý acid humic. Kết quả thí nghiệm cho thấy năng suất thực thu đạt cao nhất ở nồng độ 0,6% tại thời điểm 4 ngày trước xử lý mặn, đạt 254 g/ô. Ngược lại, nồng độ 0,2% tại thời điểm 7 ngày trước xử lý mặn cho năng suất thấp nhất (111 g/ô). Acid humic giúp cải thiện các yếu tố cấu thành năng suất như số hạt chắc và trọng lượng hạt, từ đó tăng năng suất lúa trong điều kiện mặn.

2.1. Cải thiện số hạt chắc

Xử lý acid humic giúp tăng số hạt chắc trên bông lúa, đặc biệt ở nồng độ 0,6%. Điều này cho thấy acid humic có khả năng tăng cường quá trình thụ phấn và hình thành hạt, ngay cả trong điều kiện mặn.

2.2. Tăng trọng lượng hạt

Trọng lượng hạt lúa cũng được cải thiện khi xử lý acid humic, đặc biệt ở nồng độ 0,6%. Điều này giúp tăng giá trị thương phẩm của lúa ST24, đồng thời khẳng định vai trò của acid humic trong việc cải thiện năng suất lúa.

III. Cơ chế chống chịu mặn của lúa ST24 khi xử lý acid humic

Acid humic không chỉ cải thiện sinh trưởng lúanăng suất lúa mà còn tăng cường khả năng chống chịu mặn của lúa ST24. Kết quả thí nghiệm cho thấy hoạt tính của enzyme ascorbate peroxidase (APX)catalase (CAT) tăng đáng kể khi xử lý acid humic. Các enzyme này giúp cây lúa giảm thiệt hại do stress mặn, nhờ vào việc trung hòa các gốc tự do và bảo vệ tế bào.

3.1. Tăng hoạt tính enzyme APX

Hoạt tính của enzyme APX tăng nhẹ khi xử lý acid humic, cho thấy khả năng bảo vệ tế bào khỏi stress oxy hóa. Điều này giúp cây lúa duy trì quá trình quang hợp và trao đổi chất trong điều kiện mặn.

3.2. Tăng hoạt tính enzyme CAT

Hoạt tính của enzyme CAT tăng mạnh khi xử lý acid humic, giúp cây lúa giảm thiệt hại do stress mặn. Enzyme này đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy hydrogen peroxide, một chất độc hại sinh ra trong quá trình stress mặn.

IV. Ứng dụng acid humic trong nông nghiệp bền vững

Việc sử dụng acid humic trong canh tác lúa ST24 không chỉ giúp cải thiện sinh trưởng lúanăng suất lúa mà còn góp phần vào nông nghiệp bền vững. Acid humic là một phân bón hữu cơ an toàn, giúp cải thiện chất lượng đất và tăng khả năng chống chịu của cây trồng với các điều kiện bất lợi như mặn. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng.

4.1. Cải thiện chất lượng đất

Acid humic giúp cải thiện cấu trúc đất, tăng khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cây lúa phát triển. Điều này giúp giảm thiểu việc sử dụng phân bón hóa học, góp phần vào nông nghiệp bền vững.

4.2. Giảm thiệt hại do mặn

Nhờ vào khả năng tăng cường khả năng chống chịu mặn, acid humic giúp giảm thiệt hại do xâm nhập mặn, đặc biệt ở các vùng ven biển. Điều này giúp nông dân duy trì năng suất lúa và ổn định thu nhập.

21/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của các nồng độ và thời điểm xử lý acid humic đến sinh trưởng năng suất và hoạt tính enzyme ascorbate peroxidase giống lúa st24 trong điều kiện mặn nhân tạo

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây lúa 1.1 Nguồn gốc cây lúa Phân loại học của lúa trong hệ thống phân loại thực vật (Đinh Thế Lộc, 2006). Giới: Plantae — Thực vật Ngành: Angiospemae — Thực vật có hoa Lớp: Monocotyledones — Lớp một lá mầm Bộ: Poales (Graminales) — Hòa thảo Ho: Poaceae (Graminar) — Hòa thảo Họ phụ: Poidae — Hòa thảo ưa nước Chi: Oryza Loai: Oryza sativa L Theo Gurdev (1997), tổ tiên của chỉ lúa Oryza là một loài cây hoang dai trên siêu lục địa Gondwana cách đây ít nhất 130 triệu năm và phát tán rộng khắp các châu lục trong quá trình trôi dat lục địa. Hiện nay có khoảng 21 loài cây hoang dại thuộc chi này và 2 loài lúa đã được thuần hoá là lúa châu A (Oryza sativa) và lúa châu Phi (Oryza glaberrima). Lúa châu A (Oryza sativa) là một loại lúa phổ biến có nguồn gốc tại khu vực xung quanh vùng lưu vực sông Dương Tử của Trung Quốc.

Ở Việt Nam, từ các di chỉ Đồng Đậu và trong đồng Đông Sơn có in hình người giã gạo, cùng với các vỏ trau cháy thành than đã chứng tỏ ngành trồng lúa đã có cách đây 3300 — 4100 năm (Võ Tong Xuân, 1984).2 Đặc điểm sinh thái và sinh trưởng của cây lúa 1.1 Yêu cầu sinh thái đối với cây lúa Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), đất trồng lúa cần giàu chất dinh dưỡng, nhiều hữu cơ, tơi xốp, thoáng khí, khả năng giữ nước, tầng canh tác dày đề bộ rễ ăn sâu, bám 3 chặt vào đất và huy động nhiều dinh dưỡng nuôi cây. Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc chua trung tính là thích hợp với cây lúa. Bên cạnh đó, ngưỡng chịu mặn của cây lúa là dưới 2%o, có thể sự dụng nguồn nước bị nhiễm mặn nhẹ dé cung cấp cho cây khi không có nguồn nươc ngọt. Lúa là cây trồng man cảm với mặn, do đó mặn là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm năng suất.

Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu. Trong phạm vi giới hạn (20-30°C), nhiệt độ càng tăng cây lúa phát triển càng mạnh. Nhiệt độ trên 40°C hoặc dưới 17°C, cây lúa phát triển chậm lại. Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và phát dục của cây lúa trên hai phương diện: cường độ ánh sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày (quang kỳ).

Cường độ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp của cây, thông thường cây lúa chỉ sử dụng được khoảng 65% năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu vào. Lượng bức xạ trung bình từ 250-300 cal/cm2/ngày thi cây lúa sinh trưởng tốt. Lá là cây ngày ngắn, cho nên quang kỳ ngắn điều khiến sự phát dục của cây lúa, ảnh hưởng đến sự làm dong và trổ bông khi gặp quang kỳ ngắn thích hợp.2 Đặc điểm các giai đoạn sinh trưởng cơ bản của cây lúa. Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nảy mầm cho đến khi lúa chín.

Có thé chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng đinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh trưởng sinh thực) và giai đoạn chín. Giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng): Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng. Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dan và ra nhiều ch6i mới (nở bụi). Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thé bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5 - 6 (Nguyễn Ngọc Dé, 2008).

Giai đoạn sinh sản: Giai đoạn sinh sản bắt dau từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông. Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 - 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều. Lúc này, số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều 4 cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng. Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi be của lá cờ: lúa tré bông.

Trong suốt thời gian này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trau sẽ đạt được kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng trọng lượng hạt sau này (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Giai đoạn chín : Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trỗ bông đến lúc thu hoạch. Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa âm, ít nắng trong thời gian nay giai đoạn chin sẽ kéo dai hon và ngược lại.2 Giới thiệu về giống lúa ST24 Lúa ST24 được lai tạo và nhân rộng từ năm 2010, đến nay ST24 đã được sản xuất rộng rãi ở ĐBSCL và một số địa phương khác.

Giống lúa ST24 có thời gian sinh trưởng từ 100 đến 105 ngày, chiều cao cây 105 - 110 cm, năng suất đạt 6 - 9 tan/ha, thuộc nhóm cao cây trung bình, đẻ nhánh trung bình, lá đòng mo đứng dài, bông dài 26,8 em, bông to, nhiều gié phụ. hat đóng khít, gạo trắng, trong, dài và thon; hàm lượng amylose 16 - 18% thuộc nhóm gạo dẻo, mềm cơm, độ trở hồ thấp (cấp 6 - 7), đặc biệt mùi thơm cấp 2. Giống lúa ST24 là giống lúa chất lượng, tiềm năng năng suất cao, từng được nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước biết đến với phẩm chất cơm thơm ngon, đạt giải Gạo ngon Top 3 thế giới tại Hội nghị quốc tế lần thứ IX về thương mại gạo tô chức tại Macao (Trung Quốc) năm 2017 và giải nhất gạo ST24 hữu cơ tại Festival Lúa gạo Việt Nam lần thứ III tại Long An năm 2018. Trong canh tác tự nhiên giống ST24 thường bị dịch hại rất nhẹ, có thé canh tác trong cả vụ Đông Xuân và Hè Thu ở những vùng đất nhiễm mặn đã được ngọt hóa, đất cận giồng cát, đất sản xuất 2 vụ lúa trong năm bị ảnh hưởng lũ nhẹ và vùng luân canh lúa - tôm nước lợ ở một số tỉnh ĐBSCL.

Giống ST24 được nông dân khá ưa thích vì thời gian sinh trưởng không quá dài, tương đương với các giống lúa cao sản khác, lại là giống mới nên ít nhiễm các loại dịch hại và có chất lượng gạo cao, được thị trường ưa chuộng.3 Tình hình đất trồng lúa bị xâm nhập mặn. Xâm nhập mặn hay nhiễm mặn đất là sự tích tụ quá nhiều muối hòa tan trong đất (Jan và cs. Xâm nhập mặn cũng có thể diễn ra khi sự bốc hơi trong sáu đến chín tháng trong một năm lớn hơn lượng mưa. Xâm nhập mặn và hạn hán ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, đặc biệt là sản xuất lúa (Nguyễn Phúc Khoa và cs.

Cụ thé, độ mặn ở đồng bằng sông Cửu Long dao động từ 0 đến 24.0 g/l, là vùng trọng điểm sản xuất lúa của cả nước, hàng năm sản xuất trên 50% tổng sản lượng lúa quốc gia và trên 90% lượng gạo xuất khâu (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2014). Khi nước mặn xâm nhập vào sông, kênh nội đồng có thé khiến ngành nông nghiệp của những khu vực ven biển ĐBSCL bị ảnh hưởng do tình trạng thiếu nước ngọt và đất bị nhiễm mặn. Theo thống kê, có trên 50% diện tích ĐBSCL (39.330 km?) bị nhiễm mặn. ĐBSCL là vùng đang bị tác động nghiêm trọng bởi biến đồi khí hậu, đặc biệt là tác động đến nguồn tài nguyên nước mặt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Diễn biến của thời tiết bất lợi ngày càng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp. ĐBSCL chịu những tác động tiêu cực đáng kể như: xâm nhập mặn sâu, ô nhiễm nguồn nước mặt, lũ lụt, hạn hán kéo dài, cạn kiệt nguồn nước. Trần Quốc Dat và ctv., (2012) đã xây dựng mô hình mô phỏng xâm nhập mặn ĐBSCL dưới tác động mực nước biển dâng và sự suy giảm lượng nước từ thượng nguồn dựa trên cở sỡ đữ liệu của hai năm 1998 và 2005. Kết quả mô phỏng xâm nhập mặn dự đoán đến năm 2030, nếu mực nước biển dâng cao thêm 20 cm và lưu lượng nước mùa kiệt giảm 22% thì xâm nhập mặn trên các sông chính của ĐBSCL sẽ vào sâu hơn 14 km và diện tích xâm nhập mặn mở rộng ra hầu hết các vùng được ngọt hóa thuộc các dự án ngăn mặn.

Xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu đã và đang tác động bat lợi, làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của người dân vùng ĐBSCL, đặc biệt là đối với hoạt động sản xuất lúa gạo. Ước tính đến năm 2050 sản lượng lúa ở ĐBSCL có thể giảm tương ứng 6% (vụ Đông Xuân), 2% (vụ Hè Thu) và 4% (vụ Thu Đông) do các tác nhân từ biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.4 Ảnh hưởng của mặn đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa Sự nhiễm mặn của đất được xem là một trong những vấn đề cần quan tâm bởi sự ảnh hưởng rất lớn đến diện tích và năng suất cây trồng. Tính chất vật lý và hóa hoc của đất mặn rất đa dạng, thay đổi tùy thuộc vào nguồn gốc của hiện tượng mặn, độ pH của đất, hàm lượng chất hữu cơ trong đất, chế độ thủy văn và nhiệt độ. Mặn ức chế sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng bằng cách gây ra một số hạn chế lớn.

Theo Greenway và Munns (1980) stress mặn làm giảm sinh trưởng của cây trồng vì phải chịu 4 loại tác động: (i) Tác động thẩm thấu; (ii) Độc tính ion do hấp thu quá nhiều Na’ va CI; (iii) Mat cân bằng ion đinh dưỡng do nồng độ Na” va Cl cao làm giảm hap thụ KỲ, NO, PsO¿; (iv) Tăng sản xuất các loại oxy phản ứng làm ảnh hưởng đến các đại phân tử. Mặn gây ra những triệu chứng chính cho cây lúa như sự cháy chóp lá, đầu lá bị trắng, chét lá, số chéi thấp, sinh trưởng của rễ kém, tăng số hạt bất thụ, năng suất hạt thấp (Nguyễn Văn Bo, 2010). Mặn ảnh hưởng đến hoạt động sinh trưởng của cây lúa dưới những mức độ thiệt hại khác nhau ở từng giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau (Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lan, 2003). Cây lúa bị nhiễm mặn hấp thu Natri nhiều hơn cây chống chịu, ngược lại cây chống chịu mặn hấp thụ kali nhiều hơn cây bị nhiễm.

Trong quá trình nhiễm mặn, nồng độ K+ trong tế bào được điều tiết tương thích với cơ chế điều tiết áp suất thâm thấu và khả năng tăng trưởng tế bào (Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lan, 2003).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ