CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁ DẦU THẾ GIỚI VÀ THỊ TRƯỜNG DẦU NHỚT VIỆT NAM 1. Một số cách hiểu về dầu mỏ - Dầu mỏ có rất nhiều tên, nhưng tên thông dụng nhất trong tiếng anh là Petroleum nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, Petr nghĩa là đá, Oileum nghĩa là mỡ, mỡ đá – tên gọi này xuất phát từ nguồn gốc người ta tìm thấy dầu mỏ trong các vùng đá. Hay từ Rock Oil cũng có nghĩa là Dầu Mỏ.
Ngoài ra, còn một số tên gọi khác như: Black Gold – một từ lóng, nghĩa là vàng đen, hay Naphtha xuất phát từ ngôn ngữ Ba Tư, naft hay nafátá có nghĩa là chảy. - Dầu thô (Crude Oil) cũng được coi là dầu mỏ, chỉ loại dầu mới được khai thác từ mỏ lên chưa qua một quá trình chế biến (lọc dầu và hóa dầu) nào. Một số đặc điểm về dầu mỏ - Dầu mỏ là hoá chất hữu cơ, hợp chất của hydrocarbon, nằm sâu trong vỏ Trái đất. Có nhiều cách giải thích khác nhau về dầu mỏ, nhưng theo giả thuyết được nhiều nhà khoa học đồng tình nhất, dầu mỏ chính là xác chết tiêu thụ và phân hủy từ vô số những sinh vật cổ đại (bao gồm động vật và thực vật) sống hàng triệu triệu năm trước.
Ở những nơi khác nhau có các loại dầu mỏ khác nhau, phụ thuộc vào những xác chết ban đầu và yếu tố kim loại mà dầu hòa tan khi chảy qua các lớp trầm tích. Bởi vậy, dầu mỏ được cho là nguồn nguyên liệu hóa thạch không tái tạo lại được, tức là có khả năng cạn kiệt. - Khoảng 88% dầu mỏ (dầu thô) để sản xuất nhiên liệu dùng trong ngành giao thông vận tải – sản phẩm từ quá trình lọc dầu, bằng cách tách các hidrocacbon ở các nhiệt độ khác nhau, chẳng hạn ta có: xăng (ở nhiệt độ dưới 180°C); dầu lửa (từ 180°C - 250°C); dầu diezen (nhiệt độ 250°C - 350°C);. 12% còn lại được dùng tạo ra sản phẩm từ quá trình hoá dầu – quá trình tiếp theo sau của quá trình lọc dầu.
Những sản phẩm lọc dầu sẽ qua một quá trình hóa học sâu, con người tổng hợp ra các loại sản phẩm như: dung môi, phân bón hoá học, nhựa, thuốc trừ sâu, nhựa đường… Từ những giá trị kinh tế khổng lồ mang lại ở trên mà dầu mỏ được gọi là “vàng Page 16 Người hướng dẫn: PGS. NGUYỄN THƯỜNG LẠNG đen” còn dầu mỏ thật ra không phải màu đen tuyền, đó là chất lỏng có màu nâu sẫm hoặc hơi ngả màu lục. - Muốn khai thác dầu mỏ, đầu tiên phải đi tìm điểm tập trung của dầu mỏ, tức là mỏ dầu. Và bằng những kỹ thuật hiện đại, người ta sẽ tiến hành khoan các mỏ dầu để lấy dầu (dầu thô), sau đó tiến hành quá trình chế biến (lọc dầu – hóa dầu).
Phân loại dầu mỏ (dầu thô) Ngày nay, dầu mỏ được khai thác từ rất nhiều mỏ khác nhau, chúng phân bố ở những nơi rất khác nhau về đặc điểm địa lý tự nhiên, bởi vậy mỗi loại dầu thô ở mỗi mỏ đều có sự khác biệt nhất định. Để phân loại giá trị của dầu mỏ, người ta dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Theo tỷ trọng và độ nhớt tương đối Người ta dùng tỷ trọng và độ nhớt tương đối để phân ra “dầu nhẹ”, “trung bình”, “dầu nặng”. Dầu nhẹ thường có giá trị cao hơn so với dầu nặng.
Thông thường xác định tỷ trọng dầu thô qua “trọng lực API” – thang phản ánh tỷ trọng của dầu thô, nước hoặc khí thiên nhiên. API là viết tắt của cụm từ American Petroleum Institute – Viện dầu khí Mỹ. Anh, Mỹ thường dùng S.G60/60°F, tức là tính trọng lực API theo trọng lượng riêng của chất đó ở 60°F. Trong khi đó, Nhật Bản áp dụng S.G 15/4°C; Trung Quốc và một số quốc gia ở Châu Âu dùng D20/4°C.
Theo hàm lượng lưu huỳnh có trong dầu Dựa vào hàm lượng lưu huỳnh có trong dầu mà phân ra “dầu ngọt”, “dầu chua”. Dầu thô ngọt chứa 0,5% lưu huỳnh hoặc ít hơn, và dầu thô chua chứa khoảng 1% lưu huỳnh và phải mất nhiều công đoạn hơn để có thể sản xuất nó theo các thông số hiện hành. Nói chung, dầu thô càng nặng, hàm lượng lưu huỳnh của nó càng lớn. Lưu huỳnh dư thừa được lấy ra từ dầu thô trong quá trình tinh chế, nên oxit lưu huỳnh thải vào không khí trong quá trình đốt dầu là một chất gây ô nhiễm lớn.
Những chỉ tiêu này thường được gọi là “chỉ tiêu thương mại”. Tóm lại, dầu thô được chia thành hai loại nhẹ và nặng căn cứ vào trọng lượng API có trong dầu, cũng như ngọt và chua, căn cứ vào hàm lượng lưu huỳnh có trong dầu. Dầu mỏ của Việt Nam thuộc loại dầu nhẹ, ngọt. Giá dầu của Việt Nam cũng vì thế mà có giá cao hơn giá dầu của một số nước khác.
Page 17 Người hướng dẫn: PGS. NGUYỄN THƯỜNG LẠNG 1. Theo khu vực mà dầu thô được khai thác Ngành công nghiệp dầu mỏ phân chia dầu thô theo khu vực mà nó được khai thác nhằm xác định công thức tính giá các loại dầu thô hiện nay, là dựa trên giá các loại dầu chuẩn, bao gồm các loại dầu thô tiêu chuẩn thế giới sau (tính theo thùng dầu, một thùng có thể tích 42 US gallon ~ 158,9873 lít). - Dầu West Texas Intermediate (WTI) Dầu thô West Texas Intermediate (WTI) khai thác ở Tây Texas, miền Trung Tây Hoa Kỳ, và khu vực vùng vịnh (Gulf Coast), nhiên liệu chất lượng cao và được sản xuất tại Hoa Kỳ.
Dầu WTI được đưa đến trung tâm lọc dầu Cushing, Oklahoma (Bắc Mỹ) để chế biến và đây là nơi quy định mức giá dầu thô WTI hằng ngày. Loại dầu thô này có chất lượng rất cao, ngọt, nhẹ hơn so với dầu thô Brent và được dùng làm dầu chuẩn để tính giá các loại dầu thô khác trên thế giới. Dầu WTI được gọi là dầu ngọt do chứa hàm lượng lưu huỳnh là 0,24% (thấp hơn so với các loại dầu khác: Brent là 0,37%) và được gọi là dầu nhẹ do trọng lượng API của nó là 39.6 độ (so với Brent là 38. - Dầu Brent Dầu mỏ Châu Âu, Châu Phi, tây Trung Cận Đông xuất sang Châu Âu, được đánh giá theo giá dầu của nhóm dầu Brent.
Dầu Brent, gồm 15 mỏ, là loại dầu thô được khai thác từ hệ thống mỏ Brent và Ninian nằm trong trũng lòng chảo Đông Shetland trên biển Bắc, được phối trộn chung thành Brent tại kho Sullom Voe, đảo Shetland. Đây cũng là một loại dầu thô chất lượng cao, ngọt, nhẹ ở vùng Biển Bắc là vùng biển Đại tây dương giữa Anh quốc và các xứ Bắc Âu, như Na Uy, Thụy điển, Đan mạch. - Giỏ dầu thô OPEC (OPEC Basket) Giỏ OPEC, bao gồm hỗn hợp của dầu thô nặng và nhẹ được khai thác bởi các quốc gia trong khối OPEC, dầu này nặng hơn cả Brent và WTI. Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ, viết tắt OPEC (Organization of the Petroleum Exporting Countries).
Tổ chức này gồm 12 quốc gia, trong đó có 06 nước thuộc khu vực Trung Đông là Ả rập Xê-út, Iran, I-rắc, Cô-oét, Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE), Quatar; và 04 quốc gia ở Châu Phi là Lybia, Nigeria, Algeria, Angola; còn lại 02 quốc gia ở Trung – Nam Mỹ là Venezuela và Ecuador. Page 18 Người hướng dẫn: PGS. NGUYỄN THƯỜNG LẠNG Tổ chức này thành lập năm 1960 trong hoàn cảnh thị trường dầu mỏ thế giới lúc bấy giờ được thống trị bởi “7 chị em” gồm 07 doanh nghiệp dầu mỏ lớn là: Anglo – Persian Oil Company (BP); Gulf Oil; Standard Oil of California; Texaco (giờ là Chevron); Royal Dutch Shell; Standard Oil of New Jersey (được biết đến dưới tên Esso); Standard Oil Company of New York (giờ là Exxon Mobil). Những công ty này từng kiểm soát gần 85% trữ lượng dầu của thế giới trong giai đoạn 1940 – 1970.
Nhóm này đã tìm cách loại bỏ các đối thủ cạnh tranh để họ có thể kiểm soát thị trường dầu thô. Trong bối cảnh đó, OPEC được thành lập để thống nhất và điều phối chính sách dầu để từ đó đảm bảo lợi ích lâu dài cho các thành viên trong khối. Sự ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của OPEC đã dẫn đến sự suy thoái của 07 chị em. Từ những năm 1970, OPEC nắm giữ khoảng 50% thị phần trong sản xuất dầu thô toàn cầu.
Với việc nắm giữ thị phần lớn đã giúp tổ chức này có năng lực chi phối giá dầu thô bằng việc tăng giảm sản lượng sản xuất, thông qua điều chỉnh hạn ngạch khai thác dầu lửa của các nước thành viên. Hội nghị các bộ trưởng phụ trách năng lượng và dầu mỏ thuộc OPEC được tổ chức hai lần mỗi năm, nhằm đánh giá thị trường dầu mỏ và đề ra các biện pháp phù hợp để bảo đảm việc cung cấp dầu. Bộ trưởng các nước thành viên thay nhau theo nguyên tắc xoay vòng làm chủ tịch của tổ chức hai năm một nhiệm kỳ. - Dầu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Ngoài những chuẩn dầu kể trên thì những chuẩn dầu sau đây thường được dùng làm chuẩn cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
+ Dầu Dubai – Oman Trên cơ sở dầu chua, 2 loại dầu thô này là nhóm dầu được khai thác từ các nước vùng Trung Cận. + Dầu thô Tapis (Malaysia) Trên cơ sở dầu ngọt nhẹ, là nhóm dầu được khai thác từ Malaysia, sử dụng làm chuẩn cho loại dầu nhẹ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Viễn Đông). + Dầu thô Minas (Indonesia) Dầu này được khai thác từ Indonesia, dùng làm tham chiếu cho loại dầu nặng ở Viễn Đông. Page 19 Người hướng dẫn: PGS.
NGUYỄN THƯỜNG LẠNG 1. Thị trường dầu mỏ thế giới 1. Tổng quan thị trường Mặc dù hiện nay con người đã sử dụng nhiều nguồn năng lượng thay thế, nhưng dầu thô vẫn là nguồn năng lượng quan trọng nhất trong nền kinh tế, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế thế giới. Dầu thô hay các sản phẩm tinh chế từ dầu thô đáp ứng 33% nhu cầu tiêu thụ năng lượng ở các hộ gia đình, doanh nghiệp và các nhà sản xuất.
Trong khi đó, khí tự nhiên và than đá lần lượt chiếm 22% và 28% tổng nhu cầu năng lượng thế giới. Thị trường dầu thô thế giới là nơi diễn ra các giao dịch về dầu thô giữa các quốc gia trên phạm vi toàn cầu. Là nơi có sự tham gia của hàng ngàn nhà cung cấp là các công ty dầu tư nhân hay chính phủ; và những người tiêu dùng, bên cạnh đó là các nhà đầu tư, các công ty tài chính, các nhà hoạch định chính sách.