Chương I: “Bao điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gom báo điện tử và tạp chí điện tử". Theo Giáo trình Lý ludn Báo chí Truyén thông của Dương Xuân Son, tác gia cho rằng, “Báo điện tử (Online newspaper) là loại báo xuất hiện trên internet (World Wide Web). Internet là mạng thông tin diện rộng, bao trùm toàn cau, hình thành trên cơ sở kết nói các máy tính điện tử, cho phép liên kết con người lại bằng thông tin và kết nối nguôn tri thức đã tích lũy được của toàn nhân loại trong một loại luu thông thống nhất. Quy mô, phạm vi ảnh hưởng của thông tin trên mạng internet rộng lớn hơn nhiều so với các phương tiện thông tin thông thường khác.
14 Với internet, mọi người có kha năng và điêu kiện rat thuận lợi trong việc tiép cận trực tiếp các nguồn thông tin” [41, tr. Đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất, một số nghiên cứu khác lại gọi là báo mạng điện tử. Theo tác giả Nguyễn Thị Trường Giang: “Báo mạng điện tử là một loại hình bao chỉ được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có wu thé trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, da phương tiện và tương tác cao”[18, tr. Theo tác giả Nguyễn Văn Dững, “Báo mạng điện tử là loại hình báo chí — truyền thông tôn tại và phát triển trên internet toàn câu.
Là kênh truyền thông đặc thù ra đời sau, báo mạng điện tử đã hội tụ đã hội tụ được nhiễu wu điểm nổi trội của các kênh truyền thông trước đó, dong thời cũng bộc lộ những bat cập”[11, tr. Mặc dù không thống nhất trong một khái niệm nhưng nhìn chung có thê hiểu báo mạng điện tử là loại báo mà người ta đọc thông tin trên công cụ có kết nối internet. Trong luận văn này, chúng tôi đi theo khái niệm của Luật báo chí năm 2016 quy định tại Điều 3, Chương I: “Báo điện tử là loại hình báo chi sử dụng chữ viết, hình anh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gom báo điện tử và tạp chí điện tử”. An ninh lương thực Qua tìm hiểu, nghiên cứu, tác giả luận văn nhận thấy có nhiều nghiên cứu nước ngoài và trong nước về an ninh lương thực.
Mỗi nghiên cứu đều có các định nghĩa về an ninh lương thực nhắn mạnh vào giá trị con người. Theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO) ghi trong quyền Trade reform and security food, (2002), có khoảng 200 định nghĩa về an ninh lương thực, mỗi cách tiếp cận đều đưa ra một quan niệm khác nhau. [51] An ninh lương thực là quan niệm mới xuất hiện vào giữa những năm 70 của thế ky XX, khi các quốc gia thảo luận về tình hình lương thực của thé giới và đưa ra 15 các biện pháp giải quyết đối với cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vào thời điểm đó. Mối quan tâm hàng đầu lúc này là tập trung vào việc cung cấp lương thực, dam bảo 6n định giá cả lương thực cấp quốc gia và quốc tế.
Cũng thời điểm này, tô chức của nền kinh tế toàn cầu có sự thay đổi nên làm biến động và gây khủng hoảng về lương thực. Các tô chức quốc tế tiến hành đàm phán và tô chức hội nghị Lương thực thế giới vào năm 1974. Từ đây, hệ thống thé chế mới về nguồn cung, giá ca, nguồn lực, chính sách về lương thực được thảo luận và hoan thiện dé có tinh thong nhat hon. Theo Tổ chức Nông nghiệp va Luong thực Liên Hop Quốc (FAO), an ninh lương thực là một trong những khái niệm trong chính sách công, quan niệm này tiếp tục được phát triển để phản ánh được độ phức tạp của vấn đề chính sách và kỹ thuật có liên quan.
Hội nghị thượng đỉnh lương thực thé giới 1974 định nghĩa về an ninh lương thực: “Lúc nào cũng có đủ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cơ bản cua thé giới dé đảm bảo việc tiêu dùng lương thực, thực phẩm ngày một nhiều hon và dé bù dap được những biến động trong sản xuất và giá ca”. [51] Năm 1983, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO) mở rộng định nghĩa này tính thêm cho những người dé bị tổn thương dễ tiếp cận nguồn lương thực sẵn có, tức là cần phải cần bằng giữa cung và cầu trong van đề lương thực. Tổ chức FAO cho rang: “dam bảo tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt thé chất và kinh tế đối với nguồn lương thực mà họ can”. [51] Báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1986 với tiêu đề đói nghèo đã tập trung vào tính linh hoạt theo thời gian của việc mat an ninh lương thực.
Báo cáo này cũng phân biệt giữa việc mất an ninh lương thực kinh niên với nghèo khổ quanh năm. Các van dé này cũng liên quan đến thảm họa thiên nhiên, sự suy sụp của nền kinh tế và xung đột giữa các lực lượng gây ra sức ép. Trong báo cáo nay cũng chỉ ra khái niệm về an ninh lương thực rõ hơn: “7%Gt cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được với du lương thực, thực phẩm để bảo đảm một cuộc sống khỏe mạnh và năng động”. 16 Đến giữa năm 1990, an ninh lương thực được xem là mối quan tâm hàng đầu.
Bên cạnh van dé tiếp cận được lương thực thi các tổ chức như Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO), Tổ chức y tế thế giới (WHO), Chương trình lương thực thế giới (WFP), Viện nghiên cứu và chính sách lương thực thế giới (IFPRI) lại quan tâm đến vấn đề người dân có được tiếp cận dinh dưỡng protein. Khái niệm về an ninh lương thực mở rộng ra hơn khi đề cập đến việc cân bằng dinh dưỡng từ vi mô đến vĩ mô dé người dân có cuộc sống chất lượng. Từ đây, Tổ chức kinh tế thé giới và Tổ chức y tế thế giới cho rang việc phát triển nguồn lương thực, thực phâm cân phải cân băng và đời sông khỏe mạnh của người dân. Hội nghị lương thực thế giới năm 1996 sử dụng khái niệm theo hướng rộng mở hơn: “An ninh lương thực ở cấp độ ca nhân, gia đình, khu vực và toàn cầu, đạt được khi tắt cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt thé chất và kinh tế đối với nguôn lương thực day đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng, để đáp ứng nhu cau bữa ăn và sở thích đối với thức ăn nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và khỏe mạnh”.
[51] Báo cáo về tình hình an ninh lương thực năm 2001 có khái niệm mới hơn về an ninh lương thực: “An ninh lương thực là tình trạng khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận vé mặt thé chat, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực day đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng dé đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích đối với thức ăn nhằm đảm bảo cuộc sống năng động và khỏe mạnh”. [25] An ninh lương thực có 4 trụ cột chính bao gồm nguồn lương thực sẵn có; khả năng tiếp cận nguồn lương thực của người dân về kinh tế, thể chất; sự đa dạng nguồn lương thực; sự én định của lương thực. Việc đảm bảo an ninh lương thực phải được thực hiện đồng bộ cả 4 trụ cột chính được ké trên. Sự sẵn có phải ké đến sản lượng, diện tích sản xuất, đủ nguồn xuất khâu và dự trữ khi người dân cần.
Vấn đề này được các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam có nhiều chủ trương, chính sách giữ diện tích trồng lương thực, hỗ trợ khoa 17 học, kỹ thuật dé nang cao nang suat, chat luong. Đồng thời, tạo thuận lợi cho thương mại nông sản, xây dựng hệ thống phân phối lương thực ồn định. Khả năng tiếp cận lương thực của người dân được cân đối giữa vùng, miễn. Nhiều chính sách hỗ trợ thích hợp cho người dân tiếp cận lương thực, tạo việc làm nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghẻo.
Sự đa dạng nguồn lượng thực khi người dân đảm bảo có cuộc sống lành mạnh, năng động, đủ chất dinh dưỡng. Việc thay an ninh lương thực bằng an ninh dinh dưỡng dần được thực hiện, nâng cao chất lượng cuộc song người dân. Sự 6n định lương thực được thê hiện trong lúc người dân được mùa hay giáp hạt, người dân của quốc gia luôn có lương thực trong mọi tình huống như thiên tai, dịch bệnh. Hệ thống phân phối lương thực được giữ vững, vừa cung cấp nhu cầu trong nước, vừa có thé xuất khẩu.
An ninh lương thực còn thể hiện qua việc an toàn vệ sinh thực phẩm, chất lượng lượng lương thực luôn được đảm bảo, đây lùi và hạn chế người dân bị suy dinh dưỡng. Tổng quan từ những nghiên cứu trên cùng với nội hàm của của vấn đề an ninh lương thực, có thể thấy vấn đề an ninh lương thực còn là vấn đề toàn cầu và là mối quan tâm chung của toàn nhân loại với sự ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và sự gia tăng dân số. Việc đảm bảo an ninh lương thực luôn đặt quan trọng hàng đầu, là tiền đề phát triển kinh tế, ôn định an ninh chính trị. An ninh lương thực quốc gia Đối với Việt Nam, căn cứ vào quan điểm của Đảng, Nhà nước và thực tiễn xã hội thì an ninh lương thực quốc gia được xếp vào an ninh phi truyền thống cùng với biến đôi khí hậu, an ninh kinh tế, tài chính; an ninh năng lượng; an ninh lương thực; tội phạm công nghệ cao; tội phạm xuyên quốc gia.
An ninh lương thực quốc gia có quan hệ mật thiết với an ninh kinh tế nói riêng và an ninh quốc gia nói chung. Khi dé cập đến nội hàm của an ninh kinh tế thì bộ phận không thê thiếu đó là an ninh lương thực quốc gia. Nhiều nghiên cứu về an 18 ninh phi truyền thống và an ninh kinh tế đề cập nhiều đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia. Trong đó đề cập điểm chung của an ninh lương thực quốc gia đó là đáp ứng nhu cau tồn tại của con người và giảm tỷ lệ đói nghèo trong nước, góp phan thúc day tăng trưởng kinh tế và làm tiền đề dé 6n định chính trị - xã hội.
Qua nghiên cứu, tại Việt Nam, đa phân các ý kiên cho răng an ninh lương thực quốc gia được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Hiện vẫn chưa có khái niệm thong nhât vê vân đê nay.