CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ÁN LỆ Ở VIỆT NAM VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI PHÁP LUẬT KINH TẾ 1. Lược sử quá trình hình thành và phát triển án lệ ở Việt Nam và án lệ trong hệ thống pháp luật một số nước 1. Lịch sử hình thành án lệ ở Việt Nam thời phong kiến Án lệ là một bộ phận của pháp luật, tồn tại trong cả hai trường phái pháp luật chủ đạo của thế giới là thông luật và luật thành văn. Việt Nam là một quốc gia theo trường phái luật thành văn, xuất hiện và tồn tại trong thời gian dài của lịch sử.
Thứ nhất, các bộ luật thành văn chủ đạo. Trong lịch sử Việt Nam, trải qua nhiều giai đoạn biến cố phức tạp, đất nước chính thức bắt đầu độc lập từ thế kỷ thứ X. Từ đây, các nhà nước nắm quyền thời gian dài như Triều Lý, Triều Trần, Triều Lê, Triều Nguyễn kiểm soát và tạo ra nhiều ảnh hưởng đa phương diện, từ lãnh thổ, dân tộc, phong tục, tập quán, và trong đó có pháp luật. Năm 1042, Thái Tông Lý Phật Mã ra lệnh xây dựng, soạn thảo, in ấn Bộ luật Hình thư, tức bộ luật thành văn đầu tiên của nhà nước quân chủ chuyên chế Việt Nam6.
Bộ luật Hình thư ra đời thay thế cho các chiếu chỉ, quy chế, luật lệ trước đó; quy định theo nguyên tắc lẽ phải việc xử phạt, tránh việc làm không có quy củ, lũng loạn và lạm dụng, gây ra oan sai cho người dân của giới quan lại. Bộ luật này tạo ra hệ thống khung xuyên suốt Nhà Lý (1009 – 1225), được sử dụng và cải tiến dưới thời Nhà Trần (1225 – 1400). Cũng nhờ tính định vị quan trọng của Bộ luật Hình thư, ngày nay, Lý Thái Tông được xem là nhân vật tiêu biểu trong việc bảo vệ công lý và hoạt động xét xử dưới thời quân chủ Việt Nam7. Đến thời Nhà Lê sơ (1428 – 1527), năm 1483, Thánh Tông Lê Tư Thành lệnh cho quan lại chỉnh sửa, biên soạn lại các điều luật cũ, xây dựng bộ Quốc triều Hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức).
Bộ luật này gồm sáu (6) quyển, 722 điều, và được sử dụng xuyên suốt từ thời Hồng Đức đến hết thế kỷ XVIII lúc Nhà Lê sụp đổ. Thời kỳ tiếp theo, dưới Nhà Nguyễn (1802 – 1945), năm 1815, Thế Tổ Nguyễn Ánh cho ban hành Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long), có hiệu lực từ 1818 cho đến hết 6 Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (2009), tr. 7 Năm 2020, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức Hội thảo khoa học: Nhân vật lịch sử tiêu biểu trong hoạt động xét xử của Việt Nam, đã bình chọn Lý Thái Tông (1000 – 1054) với các công trạng như: ban hành Bộ luật Hình thư; đúc chuông để người dân đến bày tỏ nỗi oan ức để được thấu xét; xét xử nhiều vụ án nổi tiếng trong lịch sử như: vụ án Loạn tam Vương, Nùng Trí Cao; truyền dạy, đào tạo con trai trưởng là Thánh Tông Lý Nhật Tôn trở thành vị quan xử án mẫu mực và lừng danh trước khi lên ngôi Hoàng đế. 7 thời đại phong kiến, bước sang giai đoạn mới của lịch sử8.
Và cũng trong thời đại quân chủ chuyên chế này, Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long là hai bộ luật được cho là tiêu biểu và phổ biến nhất. Xét lịch sử suốt thiên niên kỷ này, nhà nước phong kiến lãnh đạo bởi quý tộc, quan lại, sử dụng pháp luật được lập ra để tạo khung và chế tài cho đại đa số tầng lớp trong xã hội khắp cả nước. Việc tạo luật chính là lập pháp đều tuân thủ theo quy trình nhất định, tham khảo, nghiên cứu phục vụ ý chí của tầng lớp đứng đầu; và trong các kỹ thuật lập pháp này, bên cạnh các bộ luật chính thức được in ấn, ban bố, nhà nước còn ban hành các chiếu, chỉ, dụ, sắc, lệ hay lệnh để ra quyết định, trong đó có cả việc hướng dẫn phương thức tiến hành hoạt động xét xử khi bộ luật còn thiếu sót, chưa quy định đảy đủ các khía cạnh chi tiết hoặc chỉ quy định sơ bộ, chưa rõ. Các triều đại phong kiến Việt Nam được nhận định là triệt để áp dụng cách thức này, và hình thức này cũng cho thấy sự tương tự với thệ thống văn bản quy phạm pháp luật dưới luật và án lệ đương đại.
Thứ hai, án lệ trong pháp luật Nhà Lê. Tại thời Nhà Lê, Thánh Tông Lê Tư Thành chỉ đạo mục đích làm cho pháp luật đầy đủ, dễ hiểu và rộng rãi bằng cách sử dụng kỹ thuật lưu trữ, ghi tóm tắt lại những bản án đã được các quan lại xử án xử lý, phán quyết trong quá khứ, chọn ra làm tiền lệ pháp điển hình để về sau tham khảo, dựa trên bản án đó để áp dụng các trường hợp tương tự về sau. Lấy thí dụ cụ thể trong Bộ luật Hồng Đức, các Điều 3969, Điều 39710, về việc phân chia tài sản là bất động sản gồm đất thổ cư, hương hỏa của gia đình thực tế đều là những bản án được tắt lược lại, soạn thảo kèm vào bộ luật. Các ví dụ này đều là án lệ được nâng cấp thành luật, bổ sung vào Luật Hương hỏa, áp dụng trực tiếp, và có các điểm tương đồng về cả hình thức và nội dung.
Đơn cử thứ nhất, hai án lệ đều đổi tên đương sự có quyền và nghĩa vụ trong vụ án từ thực tế thành tên ẩn danh, các tên gọi chung như Giáp, Ất, Bính, Đinh, tức 10 can trong văn hóa phương Đông, giống như đa 8 Đặng Việt Thủy, Đặng Thành Trung (2008), tr. 9 Nguyên văn Điều 396, Bộ luật Hồng Đức: Người ông là Phạm Giáp sinh con trai trưởng là Phạm Ất, thứ là Phạm Bính. Ông tổ Phạm Giáp có ruộng đất hương hỏa hai mẫu đã giao cho con trưởng là Phạm Ất giữ. Phạm Ất đã đem hai mẫu ấy nhập vào với ruộng đất của mình mà chia cho các con, chỉ còn năm sào để cho con trai Phạm Ất giữ làm hương hỏa.
Con trai Phạm Ất lại sinh toàn con gái, mà con thứ là Phạm Bính có con trai lại có cháu trai, thì số năm sào hương hỏa hiện tại, phải giao lại cho con trai hay cháu trai Phạm Bính coi giữ. Nhưng không được đòi lấy cho đủ hai mẫu hương hỏa của tổ tiên trước mà sinh ra tranh giành. Nguyễn Ngọc Nhuận, Nguyễn Tá Nhí (2003), tr. 10 Nguyên văn Điều 397, Bộ luật Hồng Đức: Người ông là Trần Giáp sinh được trai gái hai con, trai trưởng là Trần Ất, gái là Trần Thị Bính.
Trần Ất sinh được một gái Trần Thị Đinh, còn thơ ấu thì Trần Ất chết. Ông là Trần Giáp lập chúc thư giao phần ruộng đất hương hỏa cho Trần Thị Bính giữ. Khi Trần Thị Bính chết, thì phần hương hỏa phải trả lại cho con gái Trần Ất là Trần Thị Đinh giữ. Nguyễn Ngọc Nhuận, Nguyễn Tá Nhí (2003), tr.
8 phần các bản án được công bố trong pháp luật Việt Nam đương đại đổi tên đương sự thành A, B, C, và cũng là việc giữ bí mật tên đương sự trong các án lệ từ Án lệ 1111 trở về sau. Đơn cử thứ hai, hai án lệ có nội dung xoay quanh đất hương hỏa, phong tục và tập quán thờ cúng tổ tiên, chia di sản thừa kế, mô tả chính xác thực tế về đất đai, huyết thống và gia tộc trong xã hội, vấn đề luôn tồn tại cho đến ngày nay và chỉ có ở xã hội Việt Nam và vùng văn hóa Đông Á của phương Đông. Bên cạnh Bộ luật Hồng Đức, Nhà Lê còn có các văn bản pháp luật được áp dụng khác như Luật thư do Nguyễn Trãi biên soạn (1440), Hồng Đức thiện chính thư (1470), Bộ Lê triều quan chế (1471), Thiên Nam dư hạ tập (1483), Quốc triều khám tụng điều lệ (1777, dưới thời Nhà Lê trung hưng). Trong số lượng này, Hồng Đức thiện chính thư là bộ văn bản lưu trữ chủ yếu án lệ và luật pháp, đóng vai trò quan trọng trong tiền lệ pháp.
Thời phong kiến này, khi mà xã hội còn đang xoay quanh nông nghiệp, cộng đồng khép kín, phần lớn các bản án trở thành án lệ đều liên quan đến ruộng đất, thứ tài sản chủ đạo. Ngoài ra, cũng có một số án lệ liên quan đến lĩnh vực khác, như là hôn nhân và gia đình. Ví dụ Án lệ phụ trái tử hoàn (tạm dịch: hồi đáp cho bố mẹ) nêu về việc áp dụng án lệ theo tình huống đạo đức, nhân văn trong xã hội cũ, khi mà con cái phải hồi đáp lại ơn huệ khi được bố mẹ sinh ra12; Án lệ bất phu hữu thai (tạm dịch: không chồng mà có thai), nêu đến việc áp dụng điều khoản về thông gian, tức giảm án, giảm hình phạt khắc nghiệt cho đương sự ở vụ án không được quy định trong bộ luật về người phụ nữ không có chồng mà có thai13. Một số bản án được Lương Thế Vinh trình bày, kiến nghị và được Thánh Tông Lê Tư Thành phê chuẩn thành án lệ14.
Bởi những sự kiện này, án lệ chính thức ra đời từ thời Nhà Lê sơ. Việc dùng bản án xét xử trong quá khứ làm căn cứ để tham khảo, dẫn chiếu nhằm đưa ra đường lối xét xử cho các vụ việc dân sự, hình sự xảy ra, về sau trở thành một kỹ thuật lập pháp giúp cho việc xử án trở nên dễ hơn trong quá trình áp dụng tại thực tế. Thứ ba, án lệ trong pháp luật Nhà Nguyễn. 11 Đương sự trong Án lệ 11: nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) A, bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) B; đương sự liên quan là Trần Duyên H, Trần Lưu H1, Trần Lưu H2, Trần Thanh H, Trần Minh H, Phạm Thị V, Tạ Thu H, Lưu Thị Minh N, Nguyễn Tuấn T, Đỗ Thị H.
12 Nguyên văn Đoạn 101: Nếu cha mẹ mắc nợ mà bỏ trốn thì con cháu phải trả; nếu con cháu có nợ mà bỏ trốn thì cha mẹ, ông bà không phải chịu trách nhiệm. Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Sĩ Giác (1959), tr. 13 Nguyên văn Đoạn 262: Gian phụ có thai thì ở phía gian phụ có chứng cứ; còn phía nam phu vì không có bằng chứng thì chỉ có thể xử phạt gian phụ về tội thông gian thôi. Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Sĩ Giác (1959), tr.
14 Viện Nghiên cứu Hán Nôm (2006), tr. 9 Năm 1810, Thế Tổ Nguyễn Ánh giao việc soạn thảo luật cho Nguyễn Văn Thành15, soạn từ 1811, hoàn thành năm 181216, có hiệu lực năm 181317, mang tên là Hoàng Việt luật lệ tức Bộ luật Gia Long.