Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO PHẠM NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm, đặc trưng, vai trò của giáo dục pháp luật cho phạm nhân 1. Khái niệm giáo dục pháp luật, giáo dục pháp luật cho phạm nhân 1. Khái niệm giáo dục pháp luật Trong khoa học giáo dục, khái niệm giáo dục có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Giáo dục theo nghĩa rộng bao hàm tất cả những hoạt động tác động đến cá nhân, mà có tác dụng hình thành, biến đổi và phát triển nhân cách của cá nhân. Theo nghĩa hẹp, “giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [33, tr. Trong khoa học pháp lý hiện đại, khái niệm GDPL vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất, nghĩa là còn có những quan điểm khác nhau [32, tr. Theo nghĩa rộng, GDPL được coi là một bộ phận, một hệ thống con của hệ thống giáo dục nói chung, là một hoạt động có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ tương hỗ với các hệ thống con khác, như giáo dục về chính trị, văn hóa, đạo đức.
tạo nên một hệ thống các quan hệ xã hội tác động đến cá nhân. Quan niệm này đồng nhất GDPL với quá trình xã hội hóa cá nhân trong môi trường có sự tác động, điều chỉnh của pháp luật và các loại chuẩn mực xã hội khác. Nhân cách con người được hình thành và phát triển là do tác động, ảnh hưởng của tổ hợp các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, pháp luật, đạo đức, phong tục, tập quán, lễ nghi. trong quá trình các cá nhân tham gia vào những quan hệ xã hội đó.
Theo nghĩa hẹp, GDPL là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, 8 có tổ chức, tuân theo kế hoạch mà chủ thể GDPL vạch ra nhằm chuyển tải, truyền đạt những nội dung pháp luật nhất định tới đối tượng giáo dục, dựa trên những phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp; qua đó, hiện thực hóa những mục tiêu, nhiệm vụ GDPL nhất định. Cách tiếp cận GDPL theo nghĩa hẹp hiện đang được nhiều nhà nghiên cứu tán thành, bởi nó cho phép khảo sát, đánh giá tình hình dựa trên những tiêu chí cụ thể. Vì vậy, sau khi nghiên cứu các định nghĩa về GDPL do nhiều nhà nghiên cứu đưa ra, tác giả luận văn đồng tình với định nghĩa sau đây: Giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể GDPL, tác động đến đối tượng tiếp nhận GDPL nhằm làm hình thành và phát triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết về pháp luật; tình cảm, thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật [32, tr. Khái niệm giáo dục pháp luật cho phạm nhân Theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, “Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân”.
Người chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân (hay phạm nhân) phải chấp hành án phạt tù tại trại giam dưới sự quản lý, giáo dục của trại giam. Ở Việt Nam, theo quy định và quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, tuy có một bộ phận phạm nhân được tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo tại các trại tạm giam; song các hoạt động đó được thực hiện tại phân trại riêng với các nguyên tắc, quy định giống như đối với trại giam. Ở hầu hết quốc gia, cơ quan nhà nước trực tiếp tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân trong các trại giam. Nói cách khác, trại giam là thiết chế do nhà nước lập ra để tổ chức thi hành án phạt tù, là nơi người bị 9 kết án phạt tù phải chấp hành hình phạt.
Để giam giữ những người đang chấp hành án phạt tù, trại giam được xây dựng, trang bị cơ sở vật chất cần thiết, có lực lượng cán bộ chuyên trách được trang bị vũ khí, phương tiện chuyên dụng phục vụ việc quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân. Không chỉ là quản lý, giam giữ, trại giam cũng có trách nhiệm giáo dục, cải tạo phạm nhân theo quy định của pháp luật nhằm giáo dục, cảm hóa phạm nhân, giúp họ trở thành công dân có ích cho xã hội sau khi chấp hành xong án phạt tù, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Trong quá trình chấp hành án phạt tù tại trại giam, phạm nhân bị tước và hạn chế một số quyền công dân, ví dụ như quyền bầu cử, ứng cử; bị hạn chế quyền đi lại .; song họ vẫn còn những quyền con người cơ bản khác như được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, được lao động, học tập, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, tiếp cận thông tin chính trị thời sự và pháp luật. Trong quá trình quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân, trại giam có trách nhiệm tổ chức cho phạm nhân thực hiện các quyền không bị hạn chế theo quy định của pháp luật, trong đó có việc tổ chức, thực hiện giáo dục công dân, GDPL, học văn hóa.
Thực tế ở Việt Nam đã chứng minh GDPL cho phạm nhân là một trong những biện pháp hiệu quả giúp phạm nhân nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả do hành vi phạm tội của họ gây ra; biết được chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với phạm nhân và các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; nắm bắt được những nội dung pháp luật thực định liên quan trực tiếp đến quá trình phạm nhân chấp hành án phạt tù (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Đặc xá, Quy chế trại giam.), từ đó giúp phạm nhân ổn định tư tưởng, yên tâm lao động, học tập, phấn đấu tự tu dưỡng, rèn luyện, cải tạo tốt và chuẩn bị cho mình hành trang tri thức, hiểu biết pháp luật để 10 có thể tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù. Từ những phân tích ở trên, có thể định nghĩa: GDPL cho phạm nhân là hoạt động có mục đích, có tổ chức, tuân theo kế hoạch, chương trình nhất định do các trại giam triển khai thực hiện, với các hình thức, phương pháp đặc thù phù hợp với điều kiện giam giữ, nhằm trang bị cho phạm nhân những thông tin, kiến thức pháp luật cần thiết liên quan đến quá trình chấp hành án phạt tù trong trại giam nói riêng; và tri thức, thông tin pháp luật nói chung, từ đó hình thành tình cảm, niềm tin của phạm nhân đối với pháp luật, giúp họ có hành vi pháp luật phù hợp với hoàn cảnh giam giữ, và có khả năng tái hòa nhập cộng đồng, biết sống và làm việc theo pháp luật sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù. Đặc trưng của giáo dục pháp luật cho phạm nhân Giáo dục pháp luật cho phạm nhân là hoạt động GDPL cho một nhóm đối tượng xã hội cụ thể, nên nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của GDPL nói chung. Bên cạnh đó, do phạm nhân là một nhóm đối tượng đặc biệt nên GDPL cho phạm nhân còn có những nét đặc trưng riêng.
Những đặc trưng cơ bản của GDPL cho phạm nhân thể hiện như sau [52, tr. Thứ nhất, GDPL cho phạm nhân là dạng hoạt động giáo dục được thực hiện thông qua sự tương tác giữa chủ thể GDPL là những cán bộ trại giam, và đối tượng tiếp nhận GDPL là phạm nhân. Xét chung, trong hoạt động GDPL cho phạm nhân, sự tương tác giữa chủ thể GDPL và đối tượng tiếp nhận GDPL cũng được thể hiện chủ yếu thông qua hoạt động dạy của chủ thể GDPL (phổ biến, thuyết trình, đối thoại, truyền đạt những thông tin, kiến thức pháp luật cho đối tượng) và hoạt động học của đối tượng tiếp nhận GDPL (nghe, nắm bắt, tiếp thu, lĩnh hội các thông tin, kiến thức pháp luật được truyền đạt từ chủ thể). Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của trại giam và đối 11 tượng giáo dục, những nội dung GDPL là do chủ thể GDPL là cơ quan quản lý trại giam xây dựng dành riêng cho đối tượng phạm nhân đang chấp hành án phạt tù, dựa trên các phương pháp và thông qua những hình thức GDPL phù hợp với điều kiện của từng trại giam [52, tr.
Mục đích mà hoạt động GDPL cho phạm nhân hướng tới là khắc phục tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật dẫn họ tới hành vi phạm tội trước đây; tạo cơ hội để họ tiếp thu những kiến thức pháp luật cần thiết, biết sống, làm việc theo pháp luật. Để đạt được mục đích đó, hoạt động GDPL cho phạm nhân cần được tổ chức một cách khoa học; cần xác định, lựa chọn những nội dung GDPL thực sự cần thiết, phù hợp với nhu cầu của phạm nhân; cũng như cần tìm ra những phương pháp, hình thức GDPL phù hợp với nhóm đối tượng này [52, tr. Thứ hai, GDPL cho phạm nhân là hoạt động giáo dục diễn ra trong một môi trường đặc biệt (môi trường trại giam), dành cho những đối tượng đặc biệt (phạm nhân đang chấp hành án phạt tù). Môi trường trại giam là môi trường nằm trong sự kiểm tra, giám sát một cách chặt chẽ, tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt, mang tính cưỡng chế rất cao, vì thế, một mặt, có thể tạo thuận lợi đối với hoạt động GDPL cho phạm nhân nhờ vào sự quản lý khá chặt chẽ, nghiêm túc; song, mặt khác, tính tự giác, chủ động, tích cực của phạm nhân trong quá trình tham gia học tập pháp luật thường rất thấp.
Phạm nhân thường tham gia các lớp học tập pháp luật với tâm thế miễn cưỡng, đối phó nhiều hơn là hào hứng, chủ động [52, tr. Thứ ba, GDPL cho phạm nhân đòi hỏi phải có nội dung và cách thức phù hợp. Một mặt, chủ thể GDPL phải tìm cách khơi gợi, thức tỉnh, nuôi dưỡng, bồi đắp những phẩm chất tốt đẹp vốn có/vẫn còn trong con người mỗi phạm nhân; từ đó giúp phạm nhân nhận thức được tội lỗi mà họ đã gây ra trước đây, biết ăn năn, hối hận, hình thành động cơ phấn đấu học tập, cải tạo 12 tốt, tự giác lĩnh hội kiến thức pháp luật, biết thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp để sau này tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.