Luận án Tiến sĩ: Tái cơ cấu Doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi sang nền Kinh tế Thị trường

Tìm hiểu chi tiết luận án 150 năm 2021, phân tích sâu sắc các khía cạnh nghiên cứu, phương pháp luận và kết quả đạt được.

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

189
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận án tiến sĩ về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước 2021

Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Thu Hà năm 2021 nghiên cứu tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tại Việt Nam. Đây là công trình khoa học được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Sỹ Hùng và TS. Nguyễn Đình Cung tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Luận án thuộc ngành Quản lý kinh tế, mã số 9.10, thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011-2020. Mục tiêu chính là đánh giá hiệu quả các chính sách đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Luận án đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho khu vực này. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách kinh tế.

1.1. Bối cảnh nghiên cứu luận án tiến sĩ 2021

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của khu vực này còn nhiều hạn chế. Năng lực cạnh tranh thấp so với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các vấn đề về quản trị doanh nghiệp, cơ chế giám sát chưa hiệu quả. Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đặt ra yêu cầu cấp bách. Bối cảnh này đòi hỏi nghiên cứu khoa học toàn diện về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.

1.2. Mục tiêu và phương pháp luận của luận án

Luận án đặt ra ba mục tiêu nghiên cứu chính. Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Thứ hai, đánh giá thực trạng quá trình tái cơ cấu tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Thứ ba, đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng. Sử dụng phương pháp phân tích so sánh, thống kê mô tả. Phỏng vấn chuyên gia và khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp nhà nước. Dữ liệu thu thập từ báo cáo chính thức của Chính phủ và các tổ chức quốc tế.

II. Phân tích vấn đề tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Việt Nam

Quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam đối mặt nhiều thách thức lớn. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp nhà nước còn thấp. Tình trạng đầu tư dàn trải, thua lỗ kéo dài vẫn tồn tại ở một số tập đoàn, tổng công ty. Quản trị doanh nghiệp chưa theo kịp thông lệ quốc tế. Cơ chế giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp còn bất cập. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đạt kết quả chưa như kỳ vọng. Tỷ lệ thoái vốn nhà nước ở các ngành không cần thiết còn chậm. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước yếu hơn khu vực tư nhân. Nhiều doanh nghiệp vẫn dựa vào ưu đãi, đặc quyền từ nhà nước. Vấn đề minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình chưa được đảm bảo. Áp lực hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi cải cách mạnh mẽ hơn.

2.1. Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa là nội dung trọng tâm của quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Giai đoạn 2011-2020, Việt Nam đã cổ phần hóa hàng nghìn doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện chưa đạt mục tiêu đề ra. Nhiều doanh nghiệp cổ phần hóa nhưng nhà nước vẫn nắm giữ tỷ lệ cổ phần chi phối lớn. Giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa thường thấp hơn giá trị thực. Việc bán cổ phần lần đầu ra công chúng gặp nhiều khó khăn. Thị trường chứng khoán chưa phát triển đầy đủ để hấp thụ lượng cổ phần lớn. Năng lực quản trị sau cổ phần hóa của nhiều doanh nghiệp chưa được cải thiện rõ rệt.

2.2. Hạn chế trong quản trị doanh nghiệp nhà nước

Quản trị doanh nghiệp nhà nước Việt Nam còn nhiều yếu kém cấu trúc. Mô hình chủ sở hữu nhà nước phân tán, chồng chéo giữa các cơ quan quản lý. Vai trò của hội đồng quản trị chưa phát huy hiệu quả thực chất. Hệ thống giám sát nội bộ hoạt động hình thức, thiếu độc lập. Công khai minh bạch thông tin tài chính chưa đạt chuẩn quốc tế. Chất lượng nguồn nhân lực quản lý cấp cao còn hạn chế. Cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ chưa thu hút được nhân tài. Xung đột lợi ích giữa mục tiêu kinh doanh và mục tiêu chính sách xã hội. Thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động khách quan, toàn diện.

III. Giải pháp tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong chuyển đổi kinh tế

Luận án đề xuất nhiều giải pháp đồng bộ để tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hiệu quả. Trước hết, cần thu hẹp phạm vi hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước chỉ nắm giữ 100% vốn ở những ngành then chốt, thiết yếu. Đẩy mạnh cổ phần hóa theo nguyên tắc thị trường, minh bạch và công khai. Áp dụng khung quản trị hiện đại theo thông lệ tốt của kinh tế thị trường. Đổi mới mô hình chủ sở hữu nhà nước, tách bạch chức năng quản lý nhà nước và kinh doanh. Nâng cao tính minh bạch và công khai thông tin doanh nghiệp. Hoàn thiện hệ thống đòn bẩy khuyến khích, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng. Tái cấu trúc sản phẩm, dịch vụ, nâng cao trình độ công nghệ và giá trị gia tăng. Đổi mới cơ chế bổ nhiệm, đánh giá hiệu quả lãnh đạo doanh nghiệp. Tăng cường giám sát của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước.

3.1. Đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước

Giải pháp then chốt là đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước một cách thực chất. Thực hiện thoái vốn nhà nước ở các ngành không phải kinh doanh chính. Áp dụng phương thức bán cổ phần cạnh tranh, công khai trên thị trường. Mở rộng đối tượng mua cổ phần, bao gồm nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Xây dựng lộ trình thoái vốn phù hợp, tránh gây sốc thị trường. Đảm bảo quyền lợi của người lao động trong quá trình cổ phần hóa. Hoàn thiện khung pháp lý về chuyển nhượng vốn nhà nước. Tăng cường vai trò của thị trường chứng khoán trong việc định giá doanh nghiệp. Đặt mục tiêu cụ thể, có chế tài xử lý vi phạm tiến độ.

3.2. Cải thiện quản trị doanh nghiệp nhà nước hiện đại

Áp dụng đầy đủ khung quản trị doanh nghiệp theo chuẩn OECD đối với doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới mô hình chủ sở hữu, tách biệt giữa chức năng quản lý nhà nước và quyền sở hữu kinh doanh. Nâng cao vai trò và trách nhiệm của hội đồng quản trị chuyên nghiệp. Xây dựng hệ thống giám sát nội bộ hiệu quả, độc lập. Công khai thông tin tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế. Đào tạo nguồn nhân lực quản lý chất lượng cao, có kinh nghiệm quốc tế. Thiết kế cơ chế đãi ngộ gắn liền với hiệu quả kinh doanh thực tế. Tăng cường minh bạch trong quá trình ra quyết định đầu tư kinh doanh.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của luận án tiến sĩ 2021

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Hà năm 2021 đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Kết quả nghiên cứu đóng góp quan trọng vào lý luận về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Luận án cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng tái cơ cấu giai đoạn 2011-2020. Các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn đối với quá trình hoạch định chính sách kinh tế. Kết quả áp dụng được cho các doanh nghiệp nhà nước ở quy mô khác nhau. Luận án tạo cơ sở khoa học cho việc tiếp tục đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước. Công trình mở ra hướng nghiên cứu mới về quản trị doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp.

4.1. Đóng góp khoa học của luận án tiến sĩ

Luận án có nhiều đóng góp quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận án hệ thống hóa cơ sở khoa học về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa chuyển đổi kinh tế và cải cách doanh nghiệp nhà nước. Xây dựng khung phân tích đánh giá hiệu quả tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Về thực tiễn, luận án cung cấp bằng chứng về thực trạng tái cơ cấu tại Việt Nam. Đánh giá khách quan ưu điểm và hạn chế của các chính sách đã thực hiện. Đề xuất giải pháp cụ thể, có tính ứng dụng cao cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng rộng rãi trong thực tế. Các cơ quan quản lý nhà nước sử dụng để hoàn thiện chính sách tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước áp dụng để cải thiện mô hình quản trị và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhà đầu tư tham khảo khi đánh giá cơ hội đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa. Các trường đại học sử dụng làm tài liệu giảng dạy về quản lý kinh tế. Viện nghiên cứu vận dụng phương pháp luận cho các công trình liên quan. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ quá trình xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp nhà nước giai đoạn tiếp theo. Ứng dụng thực tế đòi ngại sự phối hợp đồng bộ giữa các bên liên quan.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG TIẾN TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG TIẾN TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Các công trình nghiên cứu đã công bố ngoài nước 1. Nghiên cứu về vai trò, sứ mệnh của doanh nghiệp nhà nước OECD (2005a), Corporate Governance of State-Owned Enterprises: A SURVEY OF OECD COUNTRIES, © OECD 2005.

Theo kết quả nghiên cứu của công trình này, DNNN được Nhà nước thành lập hoặc tham gia đầu tư, quản lý để trở thành công cụ phục vụ những mục tiêu nhất định của Nhà nước, cơ bản bao gồm mục tiêu chính trị và mục tiêu kinh tế [130]. DNNN từng có vai trò rất quan trọng trong các nền kinh tế, không chỉ ở các nước XHCN mà còn ở nhiều nước công nghiệp phát triển. Cơ sở cho vai trò này nằm ở ý chí của Nhà nước muốn sử dụng DNNN làm công cụ bảo đảm việc làm; phát triển các ngành công nghiệp đòi hỏi đầu tư lớn mà khu vực tư nhân chưa đáp ứng được; kiểm soát sự suy giảm của các ngành công nghiệp nặng có giá trị gia tăng thấp (đóng tàu, khai thác quặng, than đá); hỗ trợ khu vực tư nhân phải gánh chịu những rủi ro lớn (chẳng hạn thiên tai trong sản xuất nông nghiệp). DNNN cũng được kỳ vọng để gánh vác sứ mệnh thúc đẩy phát triển kinh tế; bảo đảm mục tiêu bình đẳng và ổn định xã hội thông qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo việc làm mới; tạo nguồn thu, nguồn ngân sách cho các trợ cấp xã hội v.

Vì vậy, đã có giai đoạn trong lịch sử, nhiều quốc gia đầu tư hàng loạt DNNN ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, từ công nghiệp nặng, cơ sở hạ tầng, cho tới nông nghiệp, thông tin liên lạc, công nghệ. Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra DNNN không thể hoàn thành các sứ mệnh và mục tiêu rộng lớn đó, trong nhiều trường hợp còn trở thành gánh nặng chi phí cho Nhà nước, cho xã hội. Cùng với việc khu vực tư nhân phát triển nhanh hơn, 6 hiệu quả hơn, trào lưu tư nhân hóa DNNN đã diễn ra mạnh mẽ, bắt đầu từ CHLB Đức (đầu những năm 1960), Anh (đầu những năm 1980) sang các nước OECD khác (trong những năm 1980) và các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu (cuối 90s đầu 90s). Sang đến đầu thế kỷ 21, vai trò của DNNN đã giảm mạnh tuy rằng vẫn có vai trò nhất định trong nền kinh tế của nhiều nước OECD, trước hết trong đóng góp GDP, tạo việc làm và thị trường vốn; có vai trò quan trọng trong các ngành cung cấp dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng như năng lượng, giao thông và viễn thông, là những ngành cần thiết cho đời sống của phần lớn dân cư và sự phát triển của các ngành kinh tế khác.

Tại nền kinh tế thị trường hàng đầu thế giới như Hoa kỳ, Kevin R. Kosar(2011),“Federal Government Corporations:An Overview”, cho rằng mục tiêu thành lập các DNNN ở Hoa kỳ đầu thế kỷ 20 là trở thành công cụ can thiệp của Nhà nước khi có tình trạng “khẩn cấp", tạo thu nhập và phục vụ cho một số chức năng của Nhà nước. Báo cáo của GAO (1995), "Profiles of Existing Government Corpo ratin" thì lập luận rằng, DNNN được thành lập để cung cấp dịch vụ công có bản chất kinh doanh. Theo liệt kê của Kevin R.

Kosar số lượng DNNN cấp liên bang của Hoa kỳ hiện nay không còn nhiều (17 doanh nghiệp), chủ yếu trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, đường sắt và bưu chính, không có doanh nghiệp nào trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, chế tác. Các DNNN này do Quốc hội phê chuẩn thành lập để “cung cấp các dịch vụ công the o định hướng thị trường, tạo ra doanh thu bằng hoặc xấp xỉ với chi phí” [125]. Ở Châu Âu, điển hình là CHLB Đức, Luật Ngân sách liên bang (Điều 65) nhấn mạnh tới điều kiện để Chính phủ thành lập một DNNN hoặc tham gia đầu tư vào các doanh nghiệp là "có lợi ích quan trọng của Nhà nước và đạt được quyền lợi nhà nước này với hiệu suất cao hơn so với việc sử dụng các công cụ kinh tế khác, chẳng hạn công cụ hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách". CIEM (2012) dẫn nguồn trên Website của Bộ Tài chính Bang Hạ Xắc Xông: Mục tiêu ưu tiên trong đầu tư vốn vào các doanh nghiệp của Bang Hạ Xắc Xông không phải lợi nhuận mà là định hướng và khuyến khích doanh nghiệp phục vụ các mục tiêu tạo việc làm và phát triển kinh tế vùng.

Danh mục đầu tư của Bang là các doanh nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học (dược phẩm, môi trường, động vật, 7 khảo cổ…), vận tải đường sắt, vận tải xe bus, điện, cảng nước sâu, xử lý chất thải, trung tâm triển lãm hội chợ và một số ngân hàng, xổ số kiến thiết… Tại các nước đang và kém phát triển, theo UNIDO(2003), “ Reforming State-Owned Enterprises: Lessons of International Experience, especially for the Least Developed Countries” trong giai đoạn đầu mới giành được độc lập, nhất là thập kỷ 1950-1960, DNNN có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng; sản xuất, cung ứng hàng hóa và dịch vụ thiết yếu; tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo; thúc đẩy phát triển và bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia; tạo nguồn thu cho Chính phủ. Dù vậy, trong giai đoạn sau đó, kết quả và hiệu quả hoạt động của DNNN rất yếu kém, không đạt mục tiêu, nhiều doanh nghiệp thua lỗ, chỉ đóng góp trung bình khoảng 4% GDP của các nước đang và kém phát triển vào cuối những năm 1970, là một trong những nguyên nhân mở ra quá trình tư nhân hóa mạnh mẽ trong 2 thập kỷ 1980 và 1990 [138]. Eslie Cohen (1997), Nghiên cứu “Khu vực quốc doanh: phạm vi và hạn chế của Nhà nước trong vai trò cổ đông”: Thể hiện quan điểm phản đối việc đầu tư ồ ạt và bao cấp của Nhà nước. Tác giả cho rằng, về cơ bản, Nhà nước không còn khả năng đảm nhận thành công vai trò do bị chi phối bởi quá nhiều mục tiêu, nghiên cứu này mới chỉ ra sự cần thiết phải tái cơ cấu nhưng chưa đưa ra được các định hướng và giải pháp của tái cơ cấu [118].

Nghiên cứu về quan hệ của Nhà nước với doanh nghiệp nhà nước và vấn đề phân bổ nguồn lực OECD (2011), “Development Co- Operarion Report” chỉ ra, từ năm 2000 đến nay DNNN không sử dụng các cơ hội và lợi thế chính sách của mình để có các hành vi cản trở cạnh tranh. Tuy nhiên, trong những ngành, lĩnh vực mà DNNN tồn tại hoặc có vị trí thống lĩnh, độc quyền thì không còn cơ hội tốt để doanh nghiệp khác gia nhập thị trường. Đặc biệt, khi mà DNNN đã hình thành và phát triển trong trong các ngành có tính "liên kết mạng", các lĩnh vực được nhà nước hỗ trợ hoặc được thanh toán cho việc cung cấp dịch vụ công, thì doanh nghiệp bên ngoài khó có thể chen vào chuỗi giá trị của DNNN. Hiện tượng này có bản chất của độc quyền và kìm hãm cạnh tranh.

Robert Z Lawrence (2014) tại Hội thảo quốc tế về Cải cách Kinh tế vì tăng trưởng bao trùm và bền vững - Kinh nghiệm Quốc tế và Bài học đối với 8 Việt Nam do Bộ Ngoại giao, UNDP tổ chức tháng 3/2014 tại Hà Nội cũng nhận định: DNNN hiện nay thường nhận được các ưu đãi thông qua vốn ngân sách chính phủ với chi phí thấp, ít chịu ảnh hưởng của những quy định thông thường, miễn giảm thuế và được tạo điều kiện khi ký các hợp đồng mua sắm. Nghiên cứu về giải pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước UNIDO(2003),”Reforming State-Owned Enterprises: Lessons of International Experience, especially for the Least Developed Countries” First published September 2003. Công trình nghiên cứu này đã tổng kết các phương pháp cải cách DNNN trên thế giới và rút ra những phương pháp như sau:  Thay đổi cơ cấu sở hữu (Tư nhân hoá, đa dạng hoá sở hữu DNNN)  Cải cách khung khổ hoạt động (Cải thiện môi trường của các DNNN nhằm tăng cường động lực cho các DNNN hoạt động có hiệu quả hơn, tăng động lực và trách nhiệm vật chất; tăng quyền tự chủ; buộc DNNN đối mặt với cạnh tranh.)  Cải cách quản trị doanh nghiệp (Cải thiện cơ chế giám sát các DNNN và quá trình tổ chức thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn đầu tư của Nhà nước)  Cơ cấu lại (Thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động; giữ nguyên cơ cấu sở hữu nhưng thay đổi cơ cấu quản lý).  Giải thể phá sản (Chấm dứt pháp nhân DNNN và bán toàn bộ tài sản cho những người sử dụng khác) [138].

Cũng theo WB(2012), “ Vietnam Development Report 2012” các giải pháp cải cách DNNN cần thực hiện là: Disclose, Regulate, Equitize, Accountable, and Monitor (DREAM) [140]. Các công trình nghiên cứu về kinh tế thị trường Tran Van Tho (2014). “Vietnamese Gradualism in Reforms of the State- Owned Enterprises”. Waseda University, Tokyo.

Vietnam Asia-Pacific Economic Center (VAPEC). Tại công trình nghiên cứu này, tác giả Trần Văn Thọ đã tổng kết được kết quả của tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam giai đoạn 2011-2013 và đặt ra câu hỏi: Có phải DNNN đang kéo lùi tốc độ cải cách kinh tế của Việt Nam? Để trả lời câu hỏi này, tác giả đã phân tích vị trí của DNNN trong nền kinh tế, cấu trúc ngành nghề mà DNNN nắm giữ, kết quả 9 hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN trên các lĩnh vực nắm giữ tương ứng. Thông qua phân tích, tác giả đánh giá hai hướng tái cơ cấu DNNN của Việt Nam là: Tái cơ cấu mà không có sự tư nhân hóa, và hướng tái cơ cấu theo hướng tư nhân hóa, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về tái cơ cấu doanh nghiệp của Việt Nam. “Chính sách cạnh tranh quốc tế: Duy trì thị trường mở trong nền kinh tế toàn cầu”, Cheltenham- Northampton: Edward Elga).

Cuốn sách trình bày những nét cơ bản về cạnh tranh và các chính sách thươg mại. Những tác động của toàn cầu hòa thị trường đến doanh nghiệp, chống phá giá, chống độc quyền. Phân tích những khó khăn phát sinh do có sự hạn chế và bó buộc hợp tác, phân tích thống kê giá cả của các công ty có uy tín và liên doanh, liên kết quốc tế [127]. Trong cuốn sách này, tác giả đã cho chúng ta thấy những thách thức mà doanh nghiệp, đặc biệt là DNNN phải đối mặt và cần phải thay đổi để phù hợp với thị trường mở cửa và hoạt động theo thông lệ quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ