Tổng quan luận án
Công nghệ sinh học vi tảo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các hợp chất có giá trị dinh dưỡng cao phục vụ con người và động vật. Vi tảo biển dị dưỡng thuộc chi Schizochytrium (họ Thraustochytriidae) có khả năng tích lũy hàm lượng lipít cao (lên tới 70% khối lượng khô) và giàu các axít béo không bão hòa đa nối đôi omega-3 ($\omega$-3 PUFA), đặc biệt là axít docosahexaenoic (DHA, C22:6 $\omega$-3) và axít eicosapentaenoic (EPA, C20:5 $\omega$-3). Nguồn cung cấp DHA truyền thống từ dầu cá bộc lộ nhiều hạn chế: chất lượng không ổn định, dễ bị nhiễm các hóa chất độc hại tích lũy sinh học như hợp chất halogen hữu cơ (polychlorinated biphenyl - PCB, polybrominated diphenyl ether - PBDE), mùi vị khó chịu, độ bền oxy hóa thấp và chi phí tinh sạch tốn kém. Nuôi trồng vi tảo biển dị dưỡng trong hệ thống lên men công nghiệp cho phép chủ động sản xuất quanh năm, kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt và đạt mật độ tế bào cao.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào vi tảo biển quang tự dưỡng (Nannochloropsis, Isochrysis, Chaetoceros...) phục vụ nuôi trồng thủy sản. Với nhóm vi tảo biển dị dưỡng, các công trình trong nước mới chỉ dừng lại ở chi Labyrinthula, vốn gặp trở ngại lớn khi nuôi cấy thu sinh khối ở quy mô lớn trên môi trường lỏng do sự phụ thuộc vào vi khuẩn cộng sinh Psychrobacteria phenylpyruvicus. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện từ phân lập, phân loại, đánh giá đặc tính sinh học, tối ưu công nghệ lên men đến ứng dụng thực tiễn của chi vi tảo biển dị dưỡng Schizochytrium bản địa là khoảng trống khoa học và công nghệ cấp thiết.
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Có được bộ sưu tập chủng vi tảo biển dị dưỡng thuộc chi Schizochytrium phân lập từ một số vùng biển, vùng rừng ngập mặn của Việt Nam và sàng lọc các chủng tiềm năng cho việc sản xuất $\omega$-3 PUFA.
- Lựa chọn được một chủng tiềm năng để nuôi thu sinh khối tạo viên thực phẩm chức năng và thử nghiệm trên một số đối tượng thủy hải sản.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các chủng vi tảo biển dị dưỡng thuộc chi Schizochytrium, trọng tâm là chủng Schizochytrium mangrovei PQ6; động vật thí nghiệm (thỏ, chuột nhắt trắng, chuột cống trắng); sinh vật làm giàu (luân trùng Brachionus plicatilis, Artemia); ấu trùng cua xanh (Scylla serrata Forskal, 1775) và ấu trùng cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790).
- Phạm vi không gian: Mẫu vi tảo được thu thập tại các dải rừng ngập mặn và vùng ven biển Việt Nam (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa và Phú Quốc - Kiên Giang). Các thử nghiệm nuôi cấy, phân tích sinh hóa, sinh học phân tử được thực hiện tại Viện Công nghệ sinh học; các thử nghiệm độc tính và hiệu lực trên động vật được phối hợp tại Học viện Quân Y và Bệnh viện 103; thử nghiệm nuôi trồng thủy sản phối hợp tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3.
- Phạm vi thời gian: Luận án được thực hiện trong khuôn khổ đề tài cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007-2008) và đề tài thuộc chương trình công nghệ sinh học trong thủy sản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008-2010), hoàn thành và bảo vệ năm 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Về phân loại học, chi Schizochytrium trước đây từng được xếp vào bộ Saprolegniales thuộc ngành Oomycota do tương đồng với nấm động bào tử. Các nghiên cứu về siêu cấu trúc và phân tích trình tự gen 18S rRNA (Porter, 1990; Cavalier-Smith, 1998) đã định vị chi này vào giới Chromista, ngành Labyrinthulomycota, lớp Labyrinthulea, bộ Labyrinthulida, họ Thraustochytriidae. Yokoyama và cộng sự (2007), Jones & Pang (2012) đề xuất sắp xếp lại một số loài thuộc chi Schizochytrium sang các chi mới như Aurantiochytrium (Aurantiochytrium mangrovei) và Oblongichytrium (Oblongichytrium minutum, O. octosporum). Kỹ thuật phân lập vi tảo này phổ biến là phương pháp dùng mồi phấn thông (pine pollen baiting) kết hợp trải đĩa trực tiếp với kháng sinh, kháng nấm (Bremer, 2000; Burja và cs., 2006; Jakobsen và cs., 2007; Wilkens & Maas, 2012).
Về dinh dưỡng và công nghệ nuôi trồng, các nghiên cứu quốc tế đã làm rõ:
- Yokochi và cs. (1998) chứng minh S. limacinum SR21 sinh trưởng và tích lũy DHA tối ưu trên nguồn carbon glucose và nguồn nitơ cao ngô, peptone.
- Unagul và cs. (2005, 2006) khảo sát độ mặn (thích hợp từ 15-30 g/l muối biển) và nhiệt độ sinh trưởng của các chủng phân lập từ rừng ngập mặn.
- Bailey và cs. (2003), Barclay và cs. (2005) tại Martek Biosciences Corporation xây dựng quy trình lên men fed-batch hai pha (pha 1: phát triển sinh khối; pha 2: hạn chế nitơ và duy trì oxy hòa tan $\le 1%$ để kích thích tích lũy lipít), đạt sinh khối 170-210 g KLK/l và năng suất DHA 40 g/l.
- Qui (2003), Wallis và cs. (2002) chỉ ra con đường sinh tổng hợp DHA ở Schizochytrium được xúc tác bởi phức hệ polyketide synthase (PKS) không phụ thuộc oxy phân tử trong việc chèn nối đôi, khác với con đường fatty acid synthase (FAS) hiếu khí ở động vật có vú và nấm.
Về ứng dụng, sinh khối Schizochytrium sấy phun khô được sử dụng để làm giàu động vật phù du (Artemia, luân trùng) làm thức ăn sống cho ấu trùng thủy sản (Barclay & Zeller, 1996; Del-Castillo và cs., 2009; Song và cs., 2007); bổ sung vào thức ăn gia súc, gia cầm nhằm tăng hàm lượng DHA trong trứng, sữa, thịt (Abril và cs., 2000; Franklin và cs., 1999; Papadopoulos và cs., 2002); sản xuất dầu ăn dinh dưỡng DHASCO-S được FDA công nhận an toàn (GRAS) (FDA, 1997; Hammond và cs., 2001a,b,c; Fedorova-Dahms và cs., 2011); và sản xuất nhiên liệu sinh học biodiesel, bioethanol (Johnson & Wen, 2009; Kim và cs., 2012).
| Hướng nghiên cứu chính |
Tác giả & Năm công bố |
Nội dung và phát hiện chính |
| Hệ thống phân loại họ Thraustochytriidae |
Porter (1990); Cavalier-Smith (1998); Yokoyama & Honda (2007) |
Xếp Schizochytrium vào giới Chromista, ngành Labyrinthulomycota; đề xuất tái phân loại chi Aurantiochytrium. |
| Sinh lý dinh dưỡng và lên men DHA |
Yokochi và cs. (1998); Bailey và cs. (2003); Barclay và cs. (2005) |
Xác định vai trò của glucose, nguồn nitơ hữu cơ; công nghệ lên men fed-batch 2 pha kiểm soát oxy hòa tan. |
| Con đường sinh tổng hợp DHA |
Qui (2003); Wallis và cs. (2002) |
Chứng minh con đường polyketide synthase (PKS) kị khí trực tiếp chèn liên kết đôi trong chu trình kéo dài chuỗi. |
| Ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản |
Barclay & Zeller (1996); Del-Castillo và cs. (2009); Song và cs. (2007) |
Làm giàu DHA cho luân trùng B. plicatilis và Artemia; giảm tỷ lệ giả bạch tạng ở cá bơn Scophthalmus maximus. |
| Nghiên cứu vi tảo dị dưỡng tại Việt Nam |
Hoàng Lan Anh và cs. (2005); Hoàng Minh Hiền và cs. (2006); Nguyễn Đình Hưng và cs. (2007) |
Phân lập 13 chủng Labyrinthula spp.; chỉ ra hạn chế khi nuôi cấy lỏng thu sinh khối lớn do vi khuẩn cộng sinh. |
Luận án định vị là công trình đầu tiên tại Việt Nam giải quyết đồng bộ từ khâu phân lập, định loại bằng sinh học phân tử, khảo sát đặc điểm sinh học, xây dựng quy trình lên men quy mô 30 lít tự tạo cho chủng Schizochytrium mangrovei PQ6 bản địa, đến thử nghiệm an toàn, hiệu lực của viên thực phẩm chức năng Algal Omega-3 và ứng dụng làm giàu thức ăn sống ương nuôi ấu trùng cá Chẽm, cua xanh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Khung phân loại học hiện đại của ngành Labyrinthulomycota, lớp Labyrinthulea, bộ Labyrinthulida, họ Thraustochytriidae dựa trên hình thái học, chu trình sống (hình thành động bào tử hai roi lệch, mạng lưới ngoại chất sagenogenetosome) và chỉ thị phân tử đoạn gen 18S rRNA.
- Cơ chế sinh tổng hợp lipít và tích lũy $\omega$-3 PUFA thông qua hệ phức hệ đa enzyme polyketide synthase (PKS), trong đó quá trình chèn các liên kết đôi diễn ra đồng thời với quá trình kéo dài chuỗi acyl-ACP mà không cần các enzyme khử bão hòa hiếu khí độc lập.
- Nguyên lý điều hòa trao đổi chất: tỷ lệ C/N thấp thích hợp cho sinh trưởng sinh khối tế bào; tỷ lệ C/N cao (giới hạn nguồn nitơ) thúc đẩy tế bào ngừng phân chia và chuyển hóa nguồn carbon dư thừa thành lipít dự trữ trong tế bào chất.
- Cơ sở sinh lý dinh dưỡng ấu trùng thủy sản: động vật thủy sản không tự tổng hợp được các LCPUFA mạch dài (DHA, EPA, ARA), cần được cung cấp thông qua thức ăn sống (Artemia, luân trùng) đã được làm giàu dinh dưỡng.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Phương pháp vi sinh: Thu thập mẫu lá mục rừng ngập mặn tại các tỉnh ven biển; phân lập bằng phương pháp mồi phấn thông trên môi trường thạch GPYc có kháng sinh (chloramphenicol, penicillin, streptomycin, nystatin); bảo quản giống trên môi trường thạch nghiêng, dầu khoáng và dịch treo glycerin ở $-80^\circ\text{C}$.
- Phương pháp hình thái và hiển vi: Kính hiển vi quang học và kính hiển vi điện tử quét (SEM) nhằm phân tích hình thái tế bào, mạng lưới ngoại chất, kích thước và các giai đoạn trong chu trình sống; nhuộm huỳnh quang bằng thuốc nhuộm Nile Red để quan sát các giọt lipít nội bào.
- Phương pháp sinh học phân tử: Tách chiết DNA tổng số; nhân đoạn gen mã hóa 18S rRNA bằng kỹ thuật PCR với cặp mồi đặc hiệu; tinh sạch sản phẩm PCR; tách dòng gen vào vector plasmid và biến nạp vào tế bào Escherichia coli; giải trình tự nucleotide; so sánh độ tương đồng và thiết lập cây phát sinh chủng loại bằng phần mềm chuyên dụng so với cơ sở dữ liệu GenBank.
- Phương pháp sinh lý, sinh hóa và phân tích:
- Xác định khối lượng khô (KLK) bằng phương pháp sấy khô đến khối lượng không đổi; xác định mật độ tế bào bằng buồng đếm hồng cầu.
- Định lượng đường khử dư bằng phương pháp DNSA (acid dinitrosalicylic).
- Chiết tách lipít tổng số theo phương pháp Bligh & Dyer; chuyển vị ester tạo dẫn xuất FAME (Fatty Acid Methyl Ester); phân tích thành phần và định lượng các axít béo bằng hệ thống sắc ký khí (GC).
- Phương pháp đánh giá an toàn và hiệu lực sinh học của viên Algal Omega-3 (AO-3):
- Đánh giá độc tính cấp tính ($LD_{50}$) trên chuột nhắt trắng.
- Đánh giá độc tính bán trường diễn trên thỏ thực nghiệm trong 90 ngày: theo dõi khối lượng cơ thể, các chỉ tiêu huyết học, sinh hóa máu (hoạt độ men gan AST, ALT), ghi điện tim ở đạo trình DII, và phân tích mô bệnh học cơ quan (gan, lách, thận).
- Đánh giá hiệu lực cải thiện năng lực thần kinh: mô hình phản xạ tìm kiếm thức ăn trong mê lộ ở chuột nhắt trắng non; mô hình phản xạ tránh shock chủ động có điều kiện ở chuột cống trắng; mô hình nhảy khỏi phiến nóng.
- Phương pháp ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản:
- Thí nghiệm làm giàu luân trùng Brachionus plicatilis và Artemia bằng sinh khối khô và tươi của chủng PQ6 ở các nồng độ và khoảng thời gian khác nhau; so sánh đối chứng với men bánh mì, vi tảo quang tự dưỡng và sản phẩm thương mại Golden Power / A1 DHA Selco.
- Thử nghiệm cho ấu trùng cua xanh (Scylla serrata) và ấu trùng cá Chẽm (Lates calcarifer) ăn thức ăn sống đã làm giàu; theo dõi tỷ lệ sống, thời gian chuyển giai đoạn biến thái và tốc độ tăng trưởng chiều dài, khối lượng.
- Xử lý số liệu: Tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích thống kê phương sai bằng phần mềm chuyên dụng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương I tổng hợp có hệ thống cơ sở lý luận và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vi tảo biển dị dưỡng. Tác giả phân tích chi tiết vị trí phân loại của chi Schizochytrium, đặc điểm chu trình sống (hình thành mạng lưới ngoại chất sagenogenetosome, cụm tế bào sinh dưỡng và giải phóng động bào tử hai roi lệch) và cấu trúc màng tế bào chứa sulphate polysaccharide. Chương này làm rõ vai trò sinh học của các $\omega$-3 PUFA (DHA và EPA) trong việc bảo vệ tim mạch, phát triển trí não, chức năng thị giác, điều hòa miễn dịch và ức chế các dòng tế bào ung thư. Tác giả so sánh chi tiết hai con đường sinh tổng hợp DHA: con đường hiếu khí FAS (phụ thuộc enzyme desaturase và elongase) và con đường PKS kị khí (xúc tác bởi phức hệ polyketide synthase). Ngoài ra, chương tổng quan phân tích các yếu tố môi trường then chốt ảnh hưởng đến sinh trưởng và tích lũy lipít (nguồn carbon, nitơ, tỷ lệ C/N, độ mặn, nhiệt độ, pH, nồng độ oxy hòa tan DO), các chế độ lên men (mẻ, fed-batch, liên tục, perfusion), tình hình ứng dụng sinh khối trên thế giới và phân tích thực trạng nghiên cứu vi tảo biển dị dưỡng tại Việt Nam.
Chương II. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương II mô tả cụ thể nguồn gốc vật liệu, hóa chất, bộ sinh phẩm, động vật thí nghiệm, thiết bị và các quy trình thực nghiệm được sử dụng trong luận án:
- Địa điểm thu mẫu gồm 276 mẫu lá cây rừng ngập mặn tại các tỉnh ven biển phía Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa) và Phú Quốc (Kiên Giang).
- Môi trường phân lập GPYc (glucose, polypeptone, cao nấm men, chloramphenicol) và môi trường nuôi cấy nhân sinh khối sử dụng nước biển tự nhiên hoặc muối biển nhân tạo.
- Quy trình chụp ảnh hiển vi SEM, kỹ thuật tách dòng và đọc trình tự đoạn gen 18S rRNA.
- Quy trình lên men trên hệ thống bình lên men 5 lít, 10 lít và hệ thống bồn lên men 30 lít tự chế tạo.
- Các quy trình kiểm tra chỉ tiêu lý hóa, vi sinh, kim loại nặng, thử nghiệm độc tính cấp, độc tính bán trường diễn và các mô hình hành vi thần kinh trên chuột và thỏ.
- Bố trí thí nghiệm làm giàu luân trùng B. plicatilis, Artemia và quy trình ương nuôi ấu trùng cá Chẽm, cua xanh.
Chương III. Kết quả nghiên cứu
Chương III trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được từ 3 nhóm nội dung chính:
- Đặc điểm sinh học và định loại các chủng tuyển chọn:
- Từ các mẫu thu thập, tác giả phân lập và tuyển chọn được 4 chủng có tiềm năng cao: PQ6, PQ7, TH16 và TB17.
- Chủng PQ6 (phân lập từ Phú Quốc) có các chỉ tiêu vượt trội: sinh khối khô đạt 12,58 g/l, hàm lượng lipít tổng số đạt 38,72% KLK, hàm lượng DHA đạt 35,46% tổng lượng axít béo (TFA), tương ứng với sản lượng DHA là 90,82 mg/g KLK.
- Nghiên cứu sinh lý xác định các điều kiện tối ưu cho chủng PQ6: nguồn carbon thích hợp nhất là glucose (nồng độ tối ưu 60-90 g/l), nguồn nitơ là cao nấm men (10-15 g/l), độ mặn thích hợp 15-22,5‰ (khoảng chịu đựng rộng 0-30‰), nhiệt độ tối ưu 25-28°C, pH thích hợp 6,0-7,0.
- Giải trình tự đoạn gen 18S rRNA và phân tích cây phát sinh chủng loại đã định danh chính xác chủng PQ6 là Schizochytrium mangrovei PQ6 (trình tự nucleotide được đăng ký trên GenBank).
| Chủng vi tảo |
Địa điểm phân lập |
Sinh khối khô (g/l) |
Lipít tổng số (% KLK) |
Hàm lượng DHA (% TFA) |
Năng suất DHA (mg/g KLK) |
| PQ6 |
Phú Quốc (Kiên Giang) |
12,58 |
38,72 |
35,46 |
90,82 |
| PQ7 |
Phú Quốc (Kiên Giang) |
11,20 |
32,15 |
28,30 |
65,40 |
| TH16 |
Tĩnh Gia (Thanh Hóa) |
10,45 |
29,80 |
24,12 |
52,10 |
| TB17 |
Tiền Hải (Thái Bình) |
9,85 |
27,50 |
22,05 |
44,20 |
-
Công nghệ nuôi trồng trong các hệ thống lên men:
- Nuôi cấy chủng PQ6 trong bình lên men 5 lít và 10 lít cho thấy tế bào đạt pha cân bằng sau 72-96 giờ, lượng glucose tiêu hao tương ứng với sự gia tăng sinh khối và tích lũy lipít.
- Thử nghiệm trên hệ thống bồn lên men 30 lít tự tạo (với chi phí thấp) đạt kết quả tốt: sau 96 giờ nuôi theo mẻ, sinh khối khô đạt 22,46 g/l, hàm lượng lipít tổng số đạt 44,5% KLK, hàm lượng DHA chiếm 36,5% TFA.
- Phân tích thành phần sinh khối khô PQ6 thu nhận từ bồn lên men 30 lít cho thấy hàm lượng protein đạt 18,5%, carbohydrate 14,2%, tro 7,8%; các chỉ tiêu kim loại nặng (As, Pb, Cd, Hg) đều nằm dưới ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
-
Sản xuất viên Algal Omega-3 và ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản:
- Viên thực phẩm chức năng Algal Omega-3 (AO-3): Bào chế thành công viên nang mềm AO-3 từ sinh khối khô PQ6. Thử nghiệm độc tính cấp trên chuột nhắt trắng không xác định được liều $LD_{50}$ do chế phẩm không gây chết ở liều tối đa có thể cho uống. Thử nghiệm độc tính bán trường diễn trên thỏ trong 90 ngày cho thấy không có sự biến đổi bất thường về khối lượng, huyết học, hoạt độ AST, ALT, điện tâm đồ (DII) và cấu trúc vi thể mô gan, lách, thận. Thử nghiệm hiệu lực trên chuột cho thấy AO-3 giúp rút ngắn rõ rệt thời gian tìm thức ăn trong mê lộ, tăng tỷ lệ phản xạ tránh shock chủ động có điều kiện và rút ngắn thời gian nhảy khỏi phiến nóng.
- Làm giàu thức ăn sống và nuôi ấu trùng thủy sản: Sử dụng sinh khối tươi/khô PQ6 làm giàu cho luân trùng B. plicatilis và Artemia giúp nâng cao mạnh hàm lượng DHA và tỷ lệ DHA/EPA so với lô đối chứng nuôi bằng men bánh mì hoặc tảo quang tự dưỡng, tương đương và vượt trội sản phẩm thương mại Golden Power. Khi sử dụng Artemia và luân trùng làm giàu bằng sinh khối PQ6 làm thức ăn:
- Ấu trùng cua xanh (Scylla serrata): tỷ lệ sống qua các giai đoạn Zoea 1 đến Zoea 5 và Megalopa tăng 15-20%, thời gian chuyển giai đoạn rút ngắn 1-2 ngày so với đối chứng.
- Ấu trùng cá Chẽm (Lates calcarifer): tỷ lệ sống ở giai đoạn 1 tháng tuổi đạt trên 85% (tương đương với lô sử dụng thức ăn nhập ngoại cao cấp A1 DHA Selco), cá có tốc độ tăng trưởng chiều dài và khối lượng đồng đều, giảm thiểu dị tật.
Chương IV. Bàn luận kết quả nghiên cứu
Chương IV phân tích, so sánh các kết quả nghiên cứu của luận án với các công bố quốc tế:
- Đánh giá vị trí phân loại và đặc tính sinh học của chủng S. mangrovei PQ6, khẳng định đây là chủng vi tảo bản địa nhiệt đới có khả năng thích nghi cao, khoảng chịu mặn rộng, tốc độ sinh trưởng nhanh và hàm lượng DHA cao tương đương các chủng nghiên cứu trên thế giới (S. limacinum SR21, S. mangrovei Isolate IAo-1).
- Bàn luận sâu về quy trình công nghệ lên men: so sánh hiệu quả kinh tế và kỹ thuật của hệ thống bồn lên men 30 lít tự chế tạo tại Việt Nam so với các hệ thống lên men nhập ngoại đắt tiền; giải thích động học tiêu thụ cơ chất, sự biến đổi pH và quá trình tích lũy giọt lipít nội bào khi chuyển từ pha sinh trưởng sang pha hạn chế nitơ.
- Thảo luận về tính an toàn sinh học của viên AO-3 và cơ chế tác động của DHA nguồn gốc vi tảo lên việc cải thiện chức năng dẫn truyền thần kinh, khả năng học tập và ghi nhớ ở động vật có vú.
- Phân tích vai trò dinh dưỡng của tỷ lệ DHA/EPA và hàm lượng LCPUFA trong thức ăn sống đối với quá trình phát triển hệ thần kinh, thị giác, giảm thiểu stress và nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá Chẽm và cua xanh.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Đã phân lập, xây dựng bộ sưu tập các chủng vi tảo biển dị dưỡng thuộc chi Schizochytrium từ các vùng rừng ngập mặn của Việt Nam; cung cấp các dẫn liệu khoa học toàn diện về hình thái tế bào, siêu cấu trúc, sinh lý, sinh hóa và sinh học phân tử của các chủng tuyển chọn.
- Xác định trình tự nucleotide đoạn gen mã hóa 18S rRNA và đăng ký trên ngân hàng gen quốc tế GenBank, chính thức định danh và bổ sung loài vi tảo biển dị dưỡng Schizochytrium mangrovei PQ6 vào danh mục khu hệ vi tảo biển Việt Nam.
- Làm sáng tỏ các đặc điểm động học sinh trưởng, tích lũy lipít và con đường tổng hợp các axít béo không bão hòa đa nối đôi ($\omega$-3 PUFA/DHA) của chủng S. mangrovei PQ6 trong các điều kiện nuôi cấy khác nhau.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng
- Thiết lập thành công quy trình công nghệ nuôi cấy thu nhận sinh khối chủng S. mangrovei PQ6 trên hệ thống bồn lên men 30 lít tự tạo với các thông số kỹ thuật ổn định, chi phí thấp, cho năng suất sinh khối khô 22,46 g/l và hàm lượng DHA chiếm 36,5% TFA.
- Xây dựng quy trình bào chế viên nang mềm Algal Omega-3 (AO-3) từ sinh khối vi tảo PQ6; cung cấp đầy đủ dữ liệu thực nghiệm chứng minh tính an toàn tuyệt đối (không có độc tính cấp và độc tính bán trường diễn) và hiệu lực nâng cao chức năng hoạt động tâm thần kinh trên động vật thực nghiệm.
- Xác lập quy trình làm giàu dinh dưỡng giàu DHA cho luân trùng Brachionus plicatilis và Artemia bằng sinh khối chủng PQ6; ứng dụng thành công trong sản xuất giống nhân tạo ấu trùng cua xanh (Scylla serrata) và cá Chẽm (Lates calcarifer), nâng cao tỷ lệ sống, rút ngắn thời gian ương nuôi và chủ động thay thế các chế phẩm nhập ngoại đắt tiền.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện và nâng quy mô quy trình công nghệ lên men chủng S. mangrovei PQ6 ở quy mô pilot (100 - 500 lít) và công nghiệp.
- Khảo sát khả năng tận dụng các nguồn cơ chất phụ phẩm nông - công nghiệp rẻ tiền (như rỉ đường, dịch thủy phân tinh bột, glycerol thô từ sản xuất diesel sinh học) làm nguồn carbon và nitơ thay thế nhằm hạ giá thành sản xuất sinh khối.
- Mở rộng thử nghiệm ứng dụng sinh khối vi tảo PQ6 làm giàu thức ăn cho các đối tượng thủy sản kinh tế khác như tôm sú (Penaeus monodon), tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) và các loài cá biển có giá trị cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Công nghệ sinh học, Hóa sinh học, Vi sinh vật học và Thủy sản: Luận án cung cấp hệ thống phương pháp luận chặt chẽ từ phân lập vi sinh vật biển đặc thù, phân tích chỉ thị phân tử 18S rRNA, phương pháp sắc ký phân tích thành phần axít béo (FAME/GC), đến kỹ thuật vận hành hệ thống lên men sinh học.
- Các viện nghiên cứu, doanh nghiệp sản xuất dược phẩm và thực phẩm chức năng: Quy trình bào chế viên nang mềm Algal Omega-3 và phương pháp đánh giá độc tính cấp, bán trường diễn, cùng các mô hình thử nghiệm hiệu lực tâm thần kinh trên động vật thực nghiệm là tài liệu đối chiếu hữu ích cho việc phát triển sản phẩm mới từ nguồn vi tảo biển.
- Các cơ sở sản xuất giống và chuyên gia nuôi trồng thủy sản: Quy trình kỹ thuật làm giàu thức ăn sống (Artemia, luân trùng) bằng sinh khối vi tảo dị dưỡng cung cấp giải pháp thực tiễn giúp nâng cao chất lượng con giống, giảm tỷ lệ hao hụt và hạ giá thành sản xuất.
Câu hỏi thường gặp
1. Chủng vi tảo Schizochytrium mangrovei PQ6 được phân lập từ đâu và có những đặc điểm sinh hóa nổi bật nào?
Chủng Schizochytrium mangrovei PQ6 được phân lập từ mẫu lá cây rừng ngập mặn tại huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bằng phương pháp mồi phấn thông trên môi trường GPYc. Chủng PQ6 có khả năng sinh trưởng nhanh và tích lũy lipít cao: sinh khối khô đạt 12,58 g/l, hàm lượng lipít tổng số đạt 38,72% khối lượng khô, hàm lượng DHA chiếm 35,46% tổng lượng axít béo (TFA), tương ứng với năng suất DHA đạt 90,82 mg/g sinh khối khô.
2. Quy trình nuôi cấy chủng PQ6 trong bình lên men 30 lít tự tạo đạt được những kết quả gì?
Trong hệ thống bồn lên men 30 lít tự tạo vận hành theo mẻ trong 96 giờ với các điều kiện tối ưu (nhiệt độ 25-28°C, độ mặn 15-22,5‰, pH 6,0-7,0, nguồn carbon glucose 60-90 g/l, cao nấm men 10-15 g/l), chủng PQ6 đạt sinh khối khô 22,46 g/l, hàm lượng lipít tổng số đạt 44,5% khối lượng khô, và hàm lượng DHA đạt 36,5% tổng lượng axít béo. Sinh khối khô chứa 18,5% protein, 14,2% carbohydrate và các chỉ tiêu kim loại nặng, vi sinh đều đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
3. Tính an toàn và hiệu lực của viên thực phẩm chức năng Algal Omega-3 (AO-3) được chứng minh như thế nào?
Viên nang mềm AO-3 bào chế từ sinh khối khô PQ6 đã được kiểm nghiệm:
- An toàn: Không gây độc tính cấp trên chuột nhắt trắng (không xác định được liều gây chết $LD_{50}$); thử nghiệm độc tính bán trường diễn 90 ngày trên thỏ cho thấy các chỉ số khối lượng cơ thể, công thức máu, hoạt độ men gan AST, ALT, điện tâm đồ (đạo trình DII) và vi thể gan, lách, thận đều hoàn toàn bình thường.
- Hiệu lực: Giúp cải thiện rõ rệt năng lực hoạt động thần kinh trên chuột thực nghiệm thông qua việc rút ngắn thời gian đáp ứng tìm kiếm thức ăn trong mê lộ, tăng tỷ lệ phản xạ tránh shock chủ động có điều kiện và rút ngắn thời gian phản xạ nhảy khỏi phiến nóng.
4. Việc sử dụng sinh khối chủng PQ6 làm giàu thức ăn sống mang lại hiệu quả gì cho ấu trùng cua xanh và cá Chẽm?
Khi sử dụng sinh khối PQ6 (tươi hoặc khô) để làm giàu cho luân trùng Brachionus plicatilis và Artemia:
- Động vật phù du tích lũy hàm lượng DHA và tỷ lệ DHA/EPA vượt trội so với nuôi bằng men bánh mì hoặc tảo quang tự dưỡng, tương đương chế phẩm thương mại Golden Power.
- Ấu trùng cua xanh (Scylla serrata) ăn Artemia làm giàu có tỷ lệ sống từ giai đoạn Zoea 1 đến Megalopa tăng 15-20%, thời gian chuyển giai đoạn rút ngắn 1-2 ngày.
- Ấu trùng cá Chẽm (Lates calcarifer) ăn thức ăn sống làm giàu đạt tỷ lệ sống trên 85% ở giai đoạn 1 tháng tuổi, tăng trưởng chiều dài và khối lượng nhanh, tương đương với việc sử dụng chế phẩm cao cấp nhập ngoại A1 DHA Selco.
5. Con đường sinh tổng hợp DHA ở chi Schizochytrium có điểm gì khác biệt so với con đường ở động vật có vú và thực vật?
Ở thực vật và động vật có vú, DHA được tổng hợp qua con đường fatty acid synthase (FAS) hiếu khí thông qua các chu trình kéo dài chuỗi và khử bão hòa luân phiên đòi hỏi oxy phân tử và các enzyme desaturase/elongase riêng biệt. Ngược lại, ở chi Schizochytrium, DHA được tổng hợp chủ yếu qua con đường polyketide synthase (PKS) kị khí, trong đó các liên kết đôi dạng cis được chèn trực tiếp vào chuỗi acyl-ACP trong quá trình sinh tổng hợp mà không cần oxy phân tử tham gia phản ứng khử bão hòa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Lan Anh đã phân lập, định danh thành công chủng vi tảo biển dị dưỡng bản địa Schizochytrium mangrovei PQ6 và làm sáng tỏ các đặc điểm sinh học, sinh lý, sinh hóa cũng như động học tích lũy $\omega$-3 PUFA (DHA). Tác giả đã thiết lập thành công quy trình công nghệ nuôi cấy thu sinh khối ổn định trên hệ thống bồn lên men 30 lít tự tạo với chi phí thấp và hiệu suất cao. Công trình đã chứng minh đầy đủ tính an toàn, hiệu lực sinh học của viên thực phẩm chức năng Algal Omega-3 và hiệu quả vượt trội của sinh khối vi tảo PQ6 trong việc làm giàu thức ăn sống phục vụ sản xuất giống cá Chẽm và cua xanh, mở ra tiềm năng ứng dụng thực tiễn to lớn trong ngành dược - thực phẩm và nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam.