Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu. Nội dung chương trình 1 trình bày: Lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu và những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nội dung chương 2 tập trung trình bày các lý thuyết nền tảng liên quan đến FDI, tóm tắt tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước.
Đồng thời, tác giả cũng hệ thống lại các nghiên cứu trước theo trình tự thời gian. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu, nội dung chương 3 gồm 2 phần chính: (i) Mô hình nghiên cứu (ii) Phương pháp nghiên cứu. Đề ra khung phân tích sử dụng cho nghiêu cứu này, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động dòng vốn FDI từ Nhật Bản vào các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Trong chương 3, phương pháp phân tích dữ liệu bằng mô hình kinh tế lượng được trình bày chi tiết nhằm làm nền tảng khoa học cho quá trình phân tích kết quả ở chương 4.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Nội dung chính của chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu về FDI từ Nhật vào các nước Đông Nam Á. Kết quả phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu đã nêu ở chương 3 được trình bày và phân tích chi tiết nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã nêu ra Chương 5: Kết luận và đưa ra các đề xuất. Nội dung chính của chương cuối trình bày 2 phần chính (i) Kết luận: nêu những kết quả nghiên cứu của đề tài một cách khái quát theo mục tiêu nghiên cứu, (ii) Các giải pháp: nêu những giải pháp cần thực hiện để cải thiện tình hình thu hút vốn FDI Nhật Bản vào Việt Nam.
Các giải 1 pháp nhằm thu hút vốn FDI của Nhật Bản như: độ mở của nền kinh tế, năng suất lao động, quản lý thu chi ngân sách hiệu quả 1 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Đầu tƣ Theo Sachs và Larrain (1993), đầu tư có nghĩa là sử dụng các nguồn lực tích lũy hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai. Nguồn lực hiện tại tồn tại dưới nhiều hình thức như: vốn, tài nguyên, sức lao động, trí tuệ, tài sản (hữu hình hoặc vô hình),… Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư là số tiền sử dụng cho sản xuất trong tương lai (ví dụ như vốn), đầu tư vốn con người (Metcalf và Hassett, 1999). Trong đo lường thu nhập và sản lượng quốc gia, đầu tư còn là một thành phần của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), được đưa ra trong công thức GDP = C + I + G + NX, ở đây C là tiêu dùng của dân cư, I là đầu tư tư nhân, G là chi tiêu chính phủ và đầu tư của chính phủ và NX là xuất nhập khẩu ròng.
Như vậy đầu tư I trong khái niệm này chưa bao gồm phần đầu tư của chính phủ. Tóm lại đầu tư có thể được hiểu là nguồn nhân lực bỏ ra như: Vốn, nhân lực, tài nguyên, trí tuệ để thực hiện các hoạt động sản xuất, trao đổi theo quy định của pháp luật nhằm tạo ra các giá trị thặng dư lớn hơn trong tương lai bên cạnh giá trị của nguồn nhân lực đã bỏ ra trong hiện tại. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Nhà ĐTNN cung cấp một dòng vốn nước ngoài cho các doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác với kỳ vọng lợi nhuận từ việc tham gia vốn ở doanh nghiệp mà họ đầu tư. Nhà đầu tư có quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp nước sở tại tương ứng với tỷ lệ vốn chủ sở hữu mà họ nắm giữ.
ĐTNN bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián tiếp và các hình thức đầu tư khác. Một số định nghĩa FDI thường sử dụng Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), FDI là hoạt động đầu tư nhằm đạt được lợi ích lâu dài trong doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích 1 của chủ đầu tư là dành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế đó. Trong định nghĩa này, FDI hàm ý chỉ nhà đầu tư có nhiều ảnh hưởng quản lý điều hành doanh nghiệp và FDI là sự đầu tư với quan hệ lâu dài phản ánh lợi ích giữa NĐTNN và doanh nghiệp ở nền kinh tế của nước sở tại. Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), FDI xảy ra khi nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là yếu tố để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Tài sản mà nhà đầu tư quản lý ở nước ngoài phần lớn là cơ sở kinh doanh. Trong trường hợp đó, nhà đầu tư được gọi là “công ty mẹ”, tài sản gọi là “công ty con” hay “công ty chi nhánh” Theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam (2014) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân người nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này Theo quan điểm Eaton và Kortum (1996) cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một DN, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý DN nói trên bằng cách thành lập hoặc mở rộng một DN hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của nhà đầu tư, mua lại toàn bộ DN đã có, tham gia vào các DN mới, cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm) Graham (1996) cho rằng, “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Theo Ramcharran (2000), FDI là việc công ty mẹ mua và điều hành các tài sản vật chất như nhà máy, trang thiết bị ở nước ngoài.
Các hình thức FDI thường thực hiện là sở hữu 100%, liên doanh, nhượng quyền, sở hữu tài sản chiến lược. Quan điểm của Eaton và Kortum (1996) cho rằng FDI phản ánh mục tiêu có được lợi ích lâu dài của một tổ chức (nhà đầu tư) hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế mà các nhà đầu tư đang hoạt động. Như vậy, FDI là một hình 1 thức đầu tư, trong đó nhà đầu tư từ nền kinh tế của quốc gia khác (nước đầu tư) đóng góp số vốn nhất định dưới nhiều hình thức (bằng tiền, hoặc bằng tài sản khác) vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh dịch vụ đến nước nhận đầu tư trong thời gian dài và nhà đầu tư có khả năng ảnh hưởng đến việc quản lý, điều hành DN thông qua số vốn cổ phần nắm giữ Vậy dòng vốn FDI có những đặc tính sau: Một là, FDI là một trong những hình thức di chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế từ nước này sang nước khác với mục địch tìm kiếm lợi nhuận cho nhà đầu tư. Vốn đầu tư có thể là do cá nhân, tổ chức kinh doanh thực hiện, cung cấp trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp liên quan cho doanh nghiệp có vốn ĐTNN.
Chủ đầu tư chia sẻ quyền và nghĩa vụ kinh doanh, lợi nhuận và rủi ro cùng với đối tác nước sở tại, theo tỷ lệ vốn góp vào vốn pháp định của các bên, nếu doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì họ có toàn quyền quyết định. Hình thức này mang tính khả thi, hiệu quả kinh tế cao, ít có ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế Hai là, nhà ĐTNN phải góp tỷ lệ vốn tối thiểu trong tổng vốn đầu tư để dành quyền kiểm soát, tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ này được quy định theo luật lệ mỗi quốc gia. Tài liệu hướng dẫn cán cân thanh toán của IMF 1993 quy định tỷ lệ vốn cổ phần nắm giữ tối thiểu 10%; theo chuẩn mực của OECD, tỷ lệ nắm giữ tối thiểu 10% cổ phần phổ thông hay 15% quyền biểu quyết.
Thu nhập của nhà ĐTNN phụ thuộc kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ đầu tư, nó mang tính chất là khoản thu nhập kinh doanh, không phải là khoản lợi tức. Ba là, FDI liên quan đến việc chuyển giao một gói tài sản gồm: vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý, tổ chức từ nước này sang nước khác. Do đó, nước chủ nhà có thể tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Đây là mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được.
Nguồn vốn đầu tư có thể là vốn đầu tư ban đầu của nhà ĐTNN dưới hình thức vốn pháp định, vốn tái đầu tư từ lợi nhuận, vốn vay của doanh nghiệp để mở rộng dự án trong quá trình hoạt động. Tóm lại có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một tài sản nào khác vào quốc gia 1 đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó 2. Tổng quan lý thuyết 2. Các lý thuyết theo cấp độ vĩ mô Lý thuyết về môi trƣờng đầu tƣ Lý thuyết về môi trường đầu tư của Lucass (1988) đã chứng minh các nhân tố tác động ngoại sinh đến nguồn vốn đầu tư bao gồm: Sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng, lãi suất và mức độ phát triển của hệ thống tài chính.
Bên cạnh đó, các yếu tố về lợi thế của nền kinh tế như: Mức đầu tư công và khả năng về nguồn lực cũng có tác động đến đầu tư. Bên cạnh đó các tác động ngoại sinh khác như: số lượng các dự án đầu tư, trình độ công nghệ, khả năng tiếp thụ và vận dụng công nghệ, mức ổn định về môi trường đầu tư (môi trường vĩ mô, pháp luật và các thủ tục hành chính, tính minh bạch, mức độ đầy đủ thông tin về thị trường, các văn bản về luật lệ, thủ tục,…) đều có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.