chương 1 c ng nêu ra ý ngh a khoa học và thực ti n của đề tài. Cuối cùng là phần cấu tr c của đề tài nghiên cứu 7 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA Đ TÀI NGHIÊN C U 2.1 Th nh hoản c ngân hàng thƣơng mại 2.1 Các hái ni m iên qu n en th nh hoản Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ “thanh khoản”. Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ( IS, ) đ nh ngh a “Khả năng thanh khoản hay khả năng đáp ứng ngu n vốn cho sự tăng lên của tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn”. Theo Nguy n Văn Tiến (2010) thì thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng k p thời và đầy đủ các ngh a vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao d ch tài chính khác.
Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ( 8) ( asel Committee on ank Supervision, 2008) cho rằng “thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành cho thấy khả năng mà ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các ngh a vụ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được”. Đây là yếu tố cực k quan trọng trong việc thể hiện khả năng hoạt động kinh doanh của ngân hàng c ng như đối với sự t n tại của hầu hết các ngân hàng. Từ những khái niệm trên, về cơ ản, thanh khoản có thể được hiểu như sau Xét trong ngắn hạn, thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể thực hiện thanh toán ngay tại thời điểm ngh a vụ phát sinh. Trong dài hạn, thanh khoản cho thấy khả năng vay đủ vốn dài hạn cùng với lãi suất hợp lý nhằm đảm bảo khả năng thanh toán dài hạn và hỗ trợ việc tăng tài sản.
Vậy nhìn chung, thanh khoản thể hiện “khả năng thực hiện tất cả các ngh a vụ thanh toán khi đến hạn đến mức tối đa và ằng đơn v tiền tệ được quy đ nh” (Duttweiler, 2011). Theo ông, do thực hiện bằng tiền m t, thanh khoản ch liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện ngh a vụ thanh toán s dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản”. Có thể thấy, nếu tài sản của ngân hàng không thể chuyển thành tiền m t khi cần để đáp ứng việc chi trả các khoản tiền gửi, chuyển tiền, cho vay, thanh toán, giao d ch vốn 8 và các ngh a vụ phát sinh s rất d rơi vào tình trạng vỡ nợ, về lâu dài s d dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng.
Việc quản tr thanh khoản trong ngân hàng ao g m việc đảm bảo có đủ tiền m t và có thể vay tiền với chi phí hợp lý nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiền m t mỗi khi có phát sinh. Hai hoạt động sử dụng vốn thông thường nhất của ngân hàng là đáp ứng yêu cầu r t tiền gửi và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Ngân hàng có thể đáp ứng yêu cầu vay vốn bằng cách án tài sản (Tài sản thanh khoản) hay vay từ th trường tiền tệ (Peter S. Rose, 2001) Đảm ảo khả năng thanh khoản là một trong những hoạt động rất quan trọng đối với các ngân hàng thương mại.
Tầm ảnh hưởng của khả năng thanh khoản thực chất vượt xa khỏi phạm vi kiểm soát của ngân hàng đơn lẻ vì khi một ngân hàng suy giảm khả năng thanh khoản s gây ảnh hưởng tới toàn ộ hệ thống ngân hàng nói riêng và hoạt động của nền kinh tế trong xã hội nói chung. Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm nắm r ản chất c ng như xác đ nh, đo lường các yếu tố gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng s gi p quản lý c ng như kiểm soát hoạt động ngân hàng tốt hơn, gi p các ngân hàng giảm thiểu những tổn thất nghiêm trọng.2 Nguồn thanh khoản và trạng thái th nh hoản Khi khách hàng có nhu cầu r t tiền ho c ngân hàng phải thực hiện các ngh a vụ như đã cam kết với khách hàng s dẫn đến phát sinh vấn đề thanh khoản. Trong trường hợp này, ngân hàng không những cần đảm bảo việc cân đối nhu cầu r t tiền với lượng tiền hiện có, mà phải tính đến các khả năng để có thể huy động vốn tiếp theo. Do đó, khi thực hiện việc đánh giá thanh khoản của ngân hàng cần phải có góc nhìn ở dạng trạng thái động, ngh a là cần xem xét về quan hệ cung - cầu vốn khả dụng của ngân hàng tại từng giai đoạn nhất đ nh.1 n n on n ền vào) Theo Peter S.
Rose ( 1) thì trong l nh vực ngân hàng, cung thanh khoản được hiểu là ngu n cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, g m các khoản vốn đảm bảo khả 9 năng chi trả của ngân hàng khi có vấn đề phát sinh. Thông thường, để tăng ngu n cung thanh khoản, ngân hàng s tiến hành thông qua các cách sau Đẩy mạnh việc gia tăng các khoản ti n g i t khách hàng Các khoản tiền ký thác được xem là ngu n cung thanh khoản chủ yếu của ngân hàng. ên cạnh đó, ngân hàng có thể thực hiện các iện pháp như việc điều ch nh lãi suất huy động, cung cấp các d ch vụ hấp dẫn thông qua các chương trình khuyến mại, các gói ưu đãi hấp dẫn, ho c mang đến cho khách hàng sự hài lòng về phong cách phục vụ của ngân hàng,… nhằm đ y mạnh khối lượng giao d ch tại ngân hàng. Qua đó, ngu n cung thanh khoản của ngân hàng c ng gia tăng.
Nguồn thu t các khoản ph d ch vụ Phí chuyển khoản nội bộ, chuyển tiền liên ngân hàng, phí d ch vụ thường niên, phí d ch vụ mở L/C, phí ảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ… là các khoản thu gi p ngân hàng tăng cung thanh khoản. Những khoản t n dụng hoàn trả Các khoản tín dụng được thanh toán đầy đủ s gi p ngân hàng ảo toàn được ngu n vốn. Việc thu các khoản tín dụng đ ng hạn không những hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được đảm bảo mà còn là ngu n cung thanh khoản chính cho ngân hàng. Đi vay t th tr ờng ti n tệ Nhằm tăng ngu n cung thanh khoản, ngân hàng có thể tiến hành việc vay mượn từ các NHTM khác ho c NHTW.
Trong trường hợp ngân hàng phải đối m t với tình trạng khủng hoảng thanh khoản thì việc vay từ th trường liên ngân hàng là giải pháp thiết yếu để có thể giải quyết khó khăn thanh khoản một cách nhanh nhất. Nguồn thu t việc bán tài sản Ngân hàng có thể thực hiện việc án các tài sản sở hữu để chuyển đổi thành tiền m t khi có nhu cầu về việc tăng cung thanh khoản. Các tài sản chủ yếu của ngân hàng có tính thanh khoản bao g m trái phiếu, tín phiếu kho bạc,…Ngoài ra còn có các cổ phiếu, trái phiếu, k phiếu của các ngân hàng và các công ty có hệ số tín nhiệm cao. 1 Phát hành cổ phiếu ra th tr ờng Ngân hàng có thể tăng ngu n cung thanh khoản thông qua việc phát hành các cổ phiếu ra th trường.
Tuy vậy, việc phát hành cổ phiếu thường được thực hiện chủ yếu cho mục đích mở rộng quy mô, cơ cấu lại th phần, ngu n vốn chủ sở hữu, ít khi nhằm mục tiêu tăng thanh khoản cho ngân hàng.2 Cau thanh khoãn (dòng tiền ra) Peter S. Rose ( 1) cho rằng cầu thanh khoản được hiểu là nhu cầu r t tiền m t của khách hàng tại các thời điểm khác nhau. Cầu về thanh khoản thường bao g m: Các khoản cấp t n dụng Nghiệp vụ cấp tín dụng có thể được xem là nghiệp vụ chủ chốt của ngân hàng khi sử dụng các khoản vốn huy động được và cho khách hàng vay. Nhu cầu vay từ khách hàng gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngu n cầu thanh khoản của ngân hàng.
Lãi suất cho vay của ngân hàng, kế hoạch đầu tư của khách hàng, các quy đ nh, thủ tục về điều kiện vay vốn,…là một trong các yếu tố gây tác động đến nhu cầu vay vốn của khách hàng. Khoản trả ti n g i cho khách hàng Khách hàng có thể có nhu cầu r t tiền thường xuyên và ất k l c nào. Các khoản tiền đó ao g m: các khoản tiền gửi có k hạn, tiền gửi không k hạn, tiền gửi thanh toán và các khoản khách hàng có thể r t trước hạn. Ngân hàng cần đ c biệt lưu ý là đối với các khoản tiền gửi không k hạn và tiền gửi thanh toán phải luôn đảm bảo khoản dự trữ để luôn đáp ứng k p thời nhu cầu chi trả và thanh toán.
Các khoản phải trả khác( Chi ph i u hành, quản ý cùng với các khoản ph d ch vụ phát sinh,…) Đây là các khoản chi phí thuộc về nội bộ của ngân hàng như các khoàn chi lương, thưởng, công tác phí, chi tiền mua công cụ, dụng cụ, phần mềm nhằm phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. ên cạnh đó còn có các chi phí sử dụng 1 d ch vụ của các đơn v khác như tiền nước, tiền điện, tiền thuê văn phòng, tiền quảng cáo,… Các khoản chi trả ãi vay Là các khoản chi phí trả lãi cho việc huy động, trả lãi cho việc phát hành các giấy tờ có giá mà ngân hàng đã thực hiện trước đây. Thanh toán các khoản vay Nếu ngân hàng có phát sinh các khoản đi vay từ các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng khác ho c ngân hàng Nhà nước thì ngân hàng cần phải hoàn trả các khoản vay đó khi đến hạn. Thanh toán cổ tức cho các cổ ông Là các khoản chi cổ tức bằng tiền của ngân hàng cho các cổ đông nắm giữ các loại cổ phiếu do ngân hàng phát hành.
Mua lại cổ phiếu Đây là các khoản chi để thực hiện việc mua lại cổ phiếu mà ngân hàng đã phát hành, mua cổ phiếu quỹ nhằm tăng giá cổ phiếu, tăng thu nhập trên mỗi cổ phiếu ho c dùng cổ phiếu để chi trả cổ tức, để thưởng cho nhân viên.3 Trạng thái thanh khoãn Từ nội dung trên, có thể thấy các khoản cung và cầu thanh khoản rất đa dạng. Sự chênh lệch giữa cung và cầu thanh khoản s tạo ra trạng thái thanh khoản (Peter S.