Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: lý do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến FDI. Nêu lại các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài và mối quan hệ giữa Nhật Bản và các quốc 7 gia trong khu vực ASEAN. Từ đó, xác định các yếu tố tác động đến việc thu hút nguồn vốn FDI của Nhật Bản tại các nước ASEAN và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương này sẽ trình bày qui trình nghiên cứu, thiết kế các bước nghiên cứu và thiết kế mẫu nghiên cứu và kỹ thuật phân tích dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương này sẽ phân tích thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng; xác định các yếu tố tác động đến việc thu hút nguồn vốn FDI của Nhật Bản ở các nước ASEAN. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu, từ đó đưa ra gợi ý một số chính sách nhằm nâng cao việc thu hút nguồn vốn FDI của Nhật Bản vào các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng. Đồng thời cuối chương này cũng nêu ra những hạn chế của nghiên cứu cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày tóm lược khái niệm và sự tác động của FDI đối với nền kinh tế; lý thuyết về FDI; đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội và chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các quốc gia nghiên cứu, mối quan hệ giữa Nhật Bản và ASEAN ở lĩnh vực FDI. Nêu lại các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó xác định các yếu tố tác động đến FDI Nhật Bản vào các nước trong khu vực ASEAN và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. Khái niệm và sự tác động của FDI đối với nền kinh tế. Khái niệm FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) – đôi khi cũng được gọi là đầu tư nước ngoài trực tiếp, đầu tư trực tiếp hay đầu tư nước ngoài – là một dạng đầu tư mà nhà đầu tư có quyền kiểm soát đáng kể ở nước ngoài (Markusen, 1995).
FDI được phân biệt với đầu tư gián tiếp (FPI), một loại hình đầu tư chỉ theo đuổi lợi nhuận tài chính mà không có bất kỳ quan tâm hoặc có ý định nắm quyền kiểm soát một công ty. Theo như OECD có định nghĩa về FDI như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại đầu tư phản ánh mục tiêu đạt được một lợi ích lâu dài của một chủ thể cư trú của một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp). Lợi ích lâu dài ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp cũng như mức độ ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động điều hành của doanh nghiệp (OECD, 2009). Một nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là một cá nhân (hoặc một đơn vị tổ chức) của một nền kinh tế đã mua lại, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp ít nhất 10% cổ phần của một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác trong bất cứ lĩnh vực nào mà pháp luật cho phép.
Và vì vậy, một nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể là một cá nhân; một nhóm các cá nhân; một doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh 9 nghiệp liên kết; một doanh nghiệp nhà nước hoặc tư nhân; một nhóm các doanh nghiệp liên quan; một cơ quan chính phủ; một tổ chức xã hội khác; hoặc bất kì một sự kết hợp các đối tượng phía trên (OECD, 2009). Xét về hoạt động thực tế, có ba loại hình FDI: (i) Vốn chủ sở hữu – mua cổ phần của một doanh nghiệp hiện tại hoặc mới thành lập; (ii) Các khoản vay từ công ty mẹ; (iii) Lợi nhuận tái đầu tư – doanh nghiệp FDI tái đầu tư lợi nhuận của họ để mở rộng sản xuất. FDI theo hình thức vốn chủ sở hữu là hình thức các nhà đầu tư trực tiếp sở hữu 10% hoặc hơn cổ phiếu phổ thông, hoặc quyền biểu quyết đối với một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, hoặc các hình thức kiểm soát tương đối với một doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân. Hình thức cho chi nhánh vay liên quan đến việc vay và cho vay vốn giữa các nhà đầu tư trực tiếp và các công ty con, chi nhánh và công ty liên kết.
Lợi nhuận được tái đầu tư được xác định là lợi nhuận đầu tư không được chia dưới dạng cổ tức và không được chuyển cho các nhà đầu tư trực tiếp. Tác động của FDI đối với nền kinh tế tiếp nhận đầu tư Theo lý thuyết kinh tế, FDI có thể tạo ra hiệu ứng tích cực đối với nền kinh tế đồng thời cũng có thể tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế nếu không có chính sách phù hợp. Tác động tích cực của FDI Theo như tác giả Ohno và Lê Hà Thanh (2004) cho rằng FDI tạo ra hiệu ứng tích cực đối với nền kinh tế nước chủ nhà bao gồm tạo ra việc làm, thu nhập cho người lao động, chuyển giao công nghệ mới, tham gia vào mạng lưới sản xuất quốc tế, đóng góp vào ngân sách và giảm bớt khó khăn tài chính. Tạo việc làm và thu nhập là một trong những tác động tích cực của FDI.
Những quốc gia có dân số trẻ và đang gia tăng với nhiều lao động mới gia nhập thị trường việc làm mỗi năm như các quốc gia ASEAN, sự xuất hiện của FDI thâm 10 dụng lao động rất đáng hoan nghênh vì đã tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho những lao động mới này, giảm nhẹ các vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm. Chuyển giao công nghệ là một lợi ích nước chủ nhà rất mong đợi từ FDI. Việc thu hút các tập đoàn đa quốc gia (MNC) có vốn và công nghệ, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển giao kỹ thuật và bí quyết kinh doanh, góp phần làm tăng năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ đưa vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc thiết bị, nhiên vật liệu, trí thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường.
Do vậy, xét về mặt lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư. Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu là một lợi thế tiềm năng khác. Mạng lưới sản xuất toàn cầu và khu vực rất phát triển trong các ngành như ô tô, máy móc, điện tử và may mặc. Doanh nghiệp trong nước, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể gián tiếp tham gia vào mạng lưới toàn cầu bằng cách trở thành nhà cung cấp phụ tùng, linh kiện hoặc các dịch vụ thuê ngoài của các MNC.
Tham gia vào mạng lưới này có thể cung cấp thêm cho các công ty trong nước kiến thức và kinh nghiệm tiếp cận trực tiếp thị trường xuất khẩu. Một lợi thế khác của FDI liên quan đến nguồn lực tài chính. Ở các quốc gia khan hiếm về vốn, sức mạnh tài chính của MNC có thể hữu ích cho việc thực hiện các khoản đầu tư lớn vượt ngoài khả năng của doanh nghiệp. Tác động tiêu cực của FDI Một trong các tác động tiêu cực của FDI là việc khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo, ô nhiễm môi trường, tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty trong nước và nước ngoài mà phần bất lợi nhiều thuộc về các doanh nghiệp trong nước vì nguồn vốn, kỹ năng, công nghệ không bằng các doanh nghiệp nước ngoài.
Bên cạnh đó, với sự xuất hiện của các doanh nghiệp thâm dung lao động với quy mô lớn sẽ làm khan hiếm lực lượng lao động phổ thông, đẩy mức lương tăng lên, làm tăng những bất ổn trong xã hội như: tội phạm xã hội tăng lên, tham nhũng, rửa tiền, … 11 Hơn thế nữa, nếu không có chính sách ràng buộc hợp lý trong việc chuyển giao công nghệ từ các dự án FDI thì các nước tiếp nhận đầu tư có thể trở thành một bãi rác công nghệ khi tiếp nhận các công nghệ lạc hậu của các công ty đa quốc gia. Mặc dù FDI còn có nhiều nhược điểm như vây, song FDI ngày nay nhìn chung được xem như là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế ở các quốc gia đang phát triển như ở các quốc gia trong khu vực ASEAN. Các quốc gia trên thế giới ngày càng cạnh tranh gay gắt để thu hút được nguồn vốn FDI về với quốc gia mình. Và đối với các quốc gia tiếp nhận đầu tư cần phải có những cơ chế chính sách hợp lý để thu hút dòng vốn FDI vào quốc gia mình, đồng thời cũng phải có những chính sách đối với các hoạt động của các doanh nghiệp FDI nhằm tối đa hóa các ảnh hưởng tích cực và tối thiểu hóa các ảnh hưởng tiêu cực của FDI đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Lý thuyết về FDI 2. Lý thuyết vòng đời sản phẩm quốc tế Lý thuyết vòng đời sản phẩm quốc tế phát triển bởi Vernon vào năm 1966 đã được sử dụng để giải thích một số loại đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện bởi các công ty Hoa Kỳ ở Tây Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai trong ngành công nghiệp sản xuất. Vernon (1966) cho rằng có bốn giai đoạn của vòng đời sản phẩm: đổi mới, phát triển, trưởng thành và suy giảm. Theo Vernon, trong giai đoạn đầu tiên của các công ty xuyên quốc gia của Hoa Kỳ tạo ra sản phẩm sáng tạo mới để tiêu thụ trong nước và giá trị thặng dư được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Theo lý thuyết của vòng đời sản phẩm quốc tế, sau khi chiến tranh thế giới thứ hai, ở châu Âu đã tăng nhu cầu đối với sản phẩm sản xuất của Mỹ. Vì vậy, các doanh nghiệp Mỹ đã bắt đầu xuất khẩu đối với các sản phẩm có lợi thế về công nghệ so với đối thủ cạnh tranh quốc tế.