CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE HOẠT DONG DAU TƯ QUOC TE CUA CONG TY DA QUOC GIA 1. Cac khai niém co ban 1. Đầu tư quốc té Đầu tư quốc tế là một thành phần quan trọng của hoạt động kinh tẾ, tạo nên nhân t6 cơ bản cho tăng trưởng của các doanh nghiệp và các quốc gia. Theo nghĩa rộng, đầu tư thường được hiểu là một khoản tiền hoặc các nguồn lực khác (ví dụ như kiến thức hay thời gian) được sử dụng với ky vọng thu được một lợi ich trong tương lai.
Tuy nhiên, đầu tư có thể được xem xét hẹp hơn theo nhiều cách, phụ thuộc vào bôi cảnh và mục đích. Cách tiếp cận ở khía cạnh kinh tế cho rằng, đầu tư quốc tế chính là hoạt động xuất nhập vốn. Theo đó, đầu tư quốc tế là một quá trình trong đó có sự dịch chuyên vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác dé thực hiện các dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho các bên tham gia. Đầu tư quốc tế là một tất yếu khách quan do sự khác nhau về nhu cầu và khả năng tích lũy vốn của các quốc gia, do việc tránh các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, cũng như các nguyên nhân chính trị, kinh tế, xã hội khác.
Bản chất của đầu tư quốc tế là xuất khâu tư bản - hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Xuất khẩu tư bản là quá trình thực hiện giá trị thặng dư ở nước ngoài, còn xuất khâu hàng hoá là quá trình thực hiện giá trị thang dư ở trong nước. Xuất khẩu hang hoá và xuất khâu tư bản luôn luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Các nhà tư bản thực hiện việc xuất khâu hàng hoá dé thâm nhập tìm hiểu thi trường, luật lệ, quyết định đầu tư tư bản (xuất khẩu tư bản).
[7] Cách tiếp cận theo pháp luật về đầu tư lại tập trung vào vấn đề sở hữu(tài sản, không kế tới bản chất sản xuất hay tài chính của dau tư, trừ khi có những giới hạn cụ thé. Vi dụ, các định nghĩa rộng trong các điều ước quốc tế có thé bao gồm tat cả các dạng tài sản thuộc về một doanh nghiệp nước ngoài hoặc một cá nhân. Các khái niệm trong luật hoặc các điều ước có thê rất khác nhau, rộng hay hẹp, phụ thuộc vào hình thức và mục đích của công cụ pháp lý này. Chúng không nhằm xác định khái niệm đầu tư, mà xác định phạm vi tài sản được điều chỉnh bởi một công cụ pháp lý.
10] Theo Luật đầu tư năm 2014 của Việt Nam, khái niệm đầu tư được định nghĩa ở phạm vi hẹp, cụ thé: “Dau tu kinh doanh là việc nhà dau tư bỏ vốn dau tư để thực -10- hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tô chức kinh tế; dau tư góp vốn, mua cổ phan, phan vốn góp của các tô chức kinh tế; dau tư theo hình thức hop đồng hoặc thực hiện dự án đâu tư”. Đứng ở góc độ của một quốc gia, thì hoạt động đầu tư quốc tế bao gồm hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại nước sở tại, và hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong nước ra nước ngoài. Trong các hình thức đầu tư quốc tế thì đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quan trọng nhất, nó là nguồn cung cấp vốn lớn cho sự phát triển của các quốc gia. Bên cạnh đó, các hoạt động đầu tư của các MNC chủ yếu được thực hiện dưới hình thức FDI.
Do đó, khi nghiên cứu về các quy định pháp luật về hoạt động đầu tư quốc tế của các MNC, luận văn xin di sâu phân tích những nội dung cơ bản của hình thức đầu tư này. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hình thức FDI. Theo định nghĩa của IMF về FDI và các khái niệm liên quan thì: “Đẩu trực tiếp là dang dau tư quốc té phản ánh mục tiêu của một thực thé cư trú tại một nên kinh tế, nhằm có được moi quan tâm (lợi ich) lâu dài trong một doanh nghiệp cư trú tại một nên kinh tế khác. (Thực thể này là nhà đâu tư trực tiếp và doanh nghiệp là doanh nghiệp đâu tư trực tiếp) Mỗi quan tâm (lợi ích) lâu dài ngụ ý là tôn tại một mối quan hệ dài hạn giữa nhà dau tư trực tiếp với doanh nghiệp và một mức độ ảnh hưởng dang kể của nhà dau tư đối với việc quản lý doanh nghiệp.
Dau tư trực tiếp không chỉ bao gồm những giao dịch ban dau thiết lập nên moi quan hệ giữa nhà dau tư và doanh nghiệp, mà còn cả những giao dịch tiếp theo giữa họ và giữa các doanh nghiệp, dù có tu cách pháp nhân hay không có tu cách pháp nhám.) Một doanh nghiệp dau tư trực tiếp là (.) một doanh nghiệp có tu cách pháp nhân hoặc không có tu cách pháp nhân, trong đó một nhà dau tư trực tiếp, cư trú tại một nên kinh tế khác, sở hữu 10% hoặc hơn cô phiếu thường hoặc quyên biểu quyết (đối với một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân) hoặc mức tương đương (đối với doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân). Nhà đâu tư trực tiếp có thể là các cá nhân; các doanh nghiệp tu nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước có tu cách pháp nhán hoặc không có tu cách pháp nhán; một nhóm các cá nhân hoặc doanh nghiệp; chính phủ hoặc cơ quan của chính phủ, tập đoàn, tờ - rớt; hoặc các tổ chức sở hữu (.) các doanh nghiệp đâu tư trực tiếp tại các nên kinh tế khác ngoài nên kinh tế mà các nhà dau tư trực tiếp cư trú. Thanh viên của các nhóm liên kết các cá nhân hoặc doanh nghiệp, thông qua mức sở hữu kết hợp 10% hoặc hơn, được coi là có ảnh hưởng đến quản lý tương đương với ảnh hưởng cua một cá nhân với mức sở hữu tương tự” [28, tr. OECD cũng có một cách hiểu tương tự IMF về FDI: “Đầu tu trực tiếp nước ngoài phản ánh mục tiêu của một thực thể cư trú tại một nên kinh tế (“nhà đâu tư trực tiếp”) muốn có được một moi quan tâm (lợi ích) lâu dai trong một thực thể cư tru tại một nên kinh tế khác nên kinh tế của một nhà dau tư (“doanh nghiệp dau tư trực tiếp”).
Moi quan tâm (lợi ích lâu dài) ngụ ÿ rằng: tôn tại một moi quan hệ dai hạn giữa nhà dau tư trực tiếp với doanh nghiệp và một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp đó. Dau tư trực tiếp liên quan đến cả giao dich ban dau giữa hai thực thé va mọi giao dịch vốn tiếp theo giữa chúng và giữa các công ty con, du có tư cách pháp nhân hay không có tu cách pháp nhám. Một nhà đâu tư trực tiếp là một ca nhân, một doanh nghiệp tu nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước có tu cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, một chính phủ, một nhóm các ca nhân có liên quan hoặc một nhóm các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và/hoặc không có tư cách pháp nhân có liên quan, trong đó một nha dau tư trực tiếp sở hữu 10% hoặc hơn cô phiếu thường hoặc quyên biểu quyết của một doanh nghiệp có tu cách pháp nhân hoặc mức tương đương của một doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân. Hướng dan bằng số về mức sở hữu 10% cổ phiếu thường hoặc cô phiếu có quyén biểu quyết xác định sự ton tại của một mối quan hệ dau tư trực tiếp.
Một ảnh hưởng hiệu quả trong quản lý, với bằng chứng là việc sở hữu ít nhất 10%, ngụ ý rằng nhà -12- dau tư trực tiếp có thé tác động tới hoặc tham gia vào việc quản lý một doanh nghiệp, không đòi hỏi quyên kiểm soát hoàn toàn của nhà dau tư nước ngoài ” [22, tr. Theo đó, OECD đã chỉ ra cách thức cụ thể để nhà đầu tư thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài như: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc sự quản lý của nhà đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; hoặc cấp tín dụng dài hạn trên 5 năm. Tại Việt Nam, Luật đầu tư năm 2014 không có khái niệm cụ thể về FDI, nhưng tại Điều 2 Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1996 (Luật được Quốc hội thông qua ngày 12/11/1996 trong bối cảnh hoạt động hợp tác đầu tư nước ngoài của Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới) có quy định: “FDI là việc nhà dau tư nước ngoài dua vào Việt Nam vốn bằng tiên hoặc bằng bắt kỳ tài sản nào dé tiễn hành hoạt động dau tư theo quy định của luật này”. Có thê hiểu đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư và người sử dụng vốn là một chủ thể.
Có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá nhân người nước ngoài (các chủ đầu tư) trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử dụng vôn đâu tư và vận hành các kêt quả đâu tư nhăm thu hôi vôn đã bỏ ra. Việc một nhà đầu tư nước ngoài kiểm soát một công ty là trung tâm của khái niệm FDI, giúp phân biệt FDI với các dạng đầu tư quốc tế khác. Khái niệm “kiểm soát” đã phát triển cùng với sự tăng cường hiểu biết về hoạt động của các MNC, những chủ thé chịu trách nhiệm về phần lớn hoạt động FDI. Các công ty tiến hành FDI nhằm mở rộng sản xuất của mình ra khỏi biên giới quốc gia của nước mình, trở thành các MNC trong quá trình này.
Dé sản xuất, các MNC cần quyền kiểm soát dé quyết định sản xuất cái gì, với công nghệ nào và sản xuất ở đâu. Trong một thời gian dài, người ta đã cho rằng tỷ lệ sở hữu đa số là nguồn duy nhất để một công ty có được quyền kiểm soát đối với một công ty khác. Cùng với thời gian, giả định này dường như đã trở nên yếu đi. Thi? nhát, thực tế đã chứng minh, trong nhiều trường hợp, việc sở hữu thiêu số van đủ dé thực thi quyền kiểm soát.
Thi hai, có những dạng hợp đồng nhất định (ví dụ như hop đồng franchising - nhượng quyên kinh doanh hoặc hợp đồng quản lý) cũng có thể là một nguồn đem lại sự kiểm soát đủ mạnh dé công ty nắm quyền có thé đưa ra các quyết định sản xuất, khiến cho loại hình FDI không góp vốn gia tăng. Sản xuất quốc tế của các MNC như McDonalds -13- hay chuỗi khách sạn xuyên quốc gia chủ yêu dựa trên quyén kiểm soát dưới dạng không góp von.