CHƯƠNG I TONG QUAN YEU CÀU KỸ THUẬT TRONG SẢN XUÁT, CHẾ BIẾN CHE AN TOAN VA PHAT TRIEN XUAT KHAU CHE TAI PHU THQ Thực hiện Quyết định số 43/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch phát triển chè 1999 — 2000, định hướng phát triển chè đến 2005 — 2010, ngày 29 tháng 10 năm 2000, UBND tỉnh Phú Thọ có Quyết định số 3729/QĐ-UB phê duyệt quy hoạch phát triển chè của tỉnh giai đoạn 2001 — 2005. Theo đó, mục tiêu đến 2005, diện tích chè của toàn tỉnh đạt 12 — 12,5 ngàn ha, sản lượng ước đạt 60 — 62 ngàn tấn, xuất khẩu chè khô 10 — 11 ngàn tấn; giai đoạn 2006 — 2010 diện tích đạt 14 — 15 ngàn ha (trong đó diện tích chè kinh doanh đạt 13 ngàn ha, chè chất lượng cao 50 ha, năng suất chè búp tươi đạt 8,5 — 9 tan/ha). Đến hết năm 2005, điện tích chè tỉnh Phú Thọ đạt 12,4 ngàn ha, sản lượng đạt khoảng 65,5 ngàn tấn. Hiện tại, những địa phương có diện tích chè trồng mới nhiều nhất của Phú Thọ là các huyện Thanh Sơn (I,03 ngàn ha), Yên Lập (526,6 ha), Hạ Hoà (516,4 ha).
Năng suất trung bình chè của tỉnh đạt 77,5 tạ/ha, năng suất chè của các doanh nghiệp có vén dau tư nước ngoài đạt tới 104,42 tạ/ha, trong khi năng suất chè của các hộ nông dân chi dat 48,66 ta/ha. Về cơ cầu giống chè, những năm gần đây tỉnh Phú Thọ đã có sự chuyển đổi mạnh từ hình thức trồng chè bằng hạt sang trồng chè cảnh, rút ngắn thời gian cho thu hoạch và nâng cao năng suất cũng như chất lượng cây giống. Các giống được trồng phô biến tại Phú Thọ là Trung du, PHI, các giống chẻ mới chọn tạo như LDPI, LDP2, giống nhập nội Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Bát Tiên, các giống chè Shan,. Đến nay, các giống chè mới giâm cành chiếm khoảng 50% diện tích toàn tỉnh, và với cơ cấu này, Phú Thọ đang là một trong các tỉnh đứng đầu về chuyên đổi cơ cấu giống chè theo hướng nâng cao năng suất và chất lượng chè.
Về chế biến, Phú Thọ hiện có khoảng 80 cơ sở chế biến chè tư nhân và hơn 10 nhà máy sản xuất chè tập trung khác. Điễn hình cho các nhà máy chế biến lớn là Phú Bản, Phú Đa, Công ty chè Phú Thọ, Công ty chẻ Hưng Hà, Công ty chè Đại Đồng,. Tuy nhiên, đa số các nhà máy và cơ sở chế biến tư nhân đều tập trung sản xuất chè đen bán thành phẩm và thực hiện xuất khâu qua trung gian tại nước thứ ba nên giá chè nhìn chung còn thấp. Thêm vào đó là dây chuyền công nghệ chế biến còn lạc hậu, cũ kỹ, không đồng bộ (trừ các nhà máy liên doanh hoặc công ty có vốn lớn), đặc biệt là các cơ sở chế biến tư nhân áp dụng các mô hình sản xuất nhỏ sử dụng công nghệ máy móc thiết bị do Trung Quốc sản xuất, chưa thực sự phù hợp.
Chính vì vậy mà việc kiểm soát chất lượng sản phẩm gặp nhiều khó khăn, quản lý sản xuất trên địa bàn để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được triển khai đồng bộ và có hệ thống. Phú Thọ là tỉnh có diện tích trồng chè đứng thứ 5, sản lượng đứng thứ 4 trong cả nước. Nhưng các khâu quản lý, tổ chức sản xuất chè còn chứa đựng nhiều yếu kém vả bất cập so với thực tế. Chính vì vậy, giá chè của Phú Thọ hiện nay còn thấp so với một số tỉnh trong nước và thấp hơn nhiều so với giá chè trên thế giới và khu vực.
Nhìn chung, vị trí hiện nay của ngành chè Phú Thọ chưa phản ánh đúng với tiềm năng phát triển của cây chè, đặc biệt là khả năng phát triển các thương hiệu chè đặc sản, chè chất lượng cao được sản xuất theo qui trình đồng bộ khép kín từ nguyên liệu, chế biến, đóng gói và tiêu thụ sản phẩm đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Với những lý do nêu trên, cần thiết phải có một công trình đánh giá được thực trạng về sản xuất và chế biến chè sạch (chè an toàn), đề xuất được các giải pháp hữu hiệu dé nâng cao giá trị sản phâm, tăng khả năng cạnh tranh của chè Phú Thọ và một số tỉnh trồng chè lân cận của vùng miễn núi phía Bắc trên thị trường trong nước và thế giới. Nghiên cứu kỹ thuật đối với sản xuất, chế biến va phát triển chè an toàn 1. Chè an toàn và các thông số kỹ thuật cbủ yếu: Chè sạch (chè an toàn) được hiểu là sản phẩm thực phẩm được sản xuất, thu hoạch, chế biến, đóng gói, bảo quản theo quy trình kỹ thuật, có tồn dư về hoá chất, các vi sinh vật có hại dưới mức giới hạn tối đa cho phép theo các quy định hiện hành, không gây hại đối với môi trường sinh thái và sức khoẻ con người.
Để có được sản phẩm chè an toàn, yêu cầu phải kiểm tra một cách hệ thống tất cả các công việc quản lý, sản xuất để xác định được những nguy cơ rủi ro tiềm tàng có thể sẽ xảy đến; truy nguyên nguồn gốc; giảm sử dụng thuốc và phân bón hoá học; thực hiện tốt quy trình sản xuất chè an toàn để giảm rủi ro; xây dựng được quy trình kiểm soát thành tư liệu hướng dẫn sản xuất; tuân theo chương trình an toàn thực phẩm Quốc gia. Các thông số kỹ thuật chủ yếu của chè an toàn: - Được sản xuất theo một quy trình thống nhất, có sự giám sát chặt chẽ tại tất cả các khâu (bao gồm canh tác, quản lý dịch hại tổng hợp, thu hái nguyên liệu, bảo quản và chê biên sản phâm,.) - Dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng, hàm lượng NO; thấp hơn mức cho phép tại các tiêu chuẩn quy định hiện hành trong nước hoặc các nước sở tại nhập chè của Việt Nam. - Có cơ chế quản lý, tổ chức sản xuất hiệu quả, đảm bảo sản phâm đồng nhất ở các lô sản phẩm, đâm bảo VSATTP, môi trường bền vững vả an toàn sức khoẻ cho cộng đồng. Mức giới hạn tối đa cho phép của kim loai nang trong dat, áp dụng cho xây dựng vùng sản xuât chè an toàn (TCVN 7209:2000) TT Nguyên tô Mức cho phép (mg/kg) 1 Arsenic (As) 12 2 Cardimi (Cs) 2 3 Dong (Cu) 50 4 Chi (Pb) 70 5 Kém (Zn) 200 Bảng 2.
Mức giới hạn tối đa cho phép của hoá chất BVTV trong đất, áp dụng cho xây dựng vùng sản xuât chè an toàn (TCVN 5941:1995) TT Hoá chất Tác dụng Mức cho phép (mg/kg) 1 | Altrzine Trừ cỏ 0,2 2 124D Trừ cỏ 0,2 3 | Dalapon Trừ cỏ 0,2 4 |MPCA Trừ cỏ 02 5 | Sofit Trừ cỏ 0,5 6 | Fenoxaprop-ethel Trừ cỏ 0,5 (WhipS) 7 |Simaxine Trừ cỏ 0,2 §_ | Cypermethin Trừ cỏ 0,5 9 | Saturn (Benthiocarb) Trừ cỏ 0,5 10} Dual (Metolachlor) Trừ cỏ 0,5 II | Fuli-one Diệt nâm 0,1 12 | Fenvaleat Trừ sâu 0,1 13 |Lindan Trừ sâu 0,1 14 | Monitor Trừ sâu 0,1 (Methamidophos) 15__| Monocrotophos Trừ sâu 0,1 l6 | Dimethoate Trừ sâu 0,1 17_| Methyl Parathion Trừ sâu 0,1 {8 | Triclofon (Clorophos) Trừ sâu 0,1 19 | Padan Trừ sâu 0,1 20 | Diazinon Trừ sâu 0,1 21 | Fenobucarb (Bassa) Trừ sâu 0,1 22 IDDT Trừ sâu 0,1 9 Bảng 3. Mức giới hạn tối đa cho phép của một số chất trong nước tưới, áp dụng cho xây dựng vùng sản xuât chè an toàn (Theö TCVN 6773:2000) | TT Thông số chất lượng Đơn vị. Mức các thông số cho phép | 1 | Téng sé chat ran hoa tan mg/lít <1000 (voi EC <_ 1,758, 25°C) 2_ | Tỷ số SAR` của nước tưới mg/lit <18 3 | Bo mg/ít 1-4 4 | Oxy hoa tan mgilít >2 5 | pH meg/lit 5,5-8,5 6 _| Clorua (Cl) mg/lit <350 7_ | Hoá chất trừ cô mgilít <0,001 § | Thuỷ ngân mg/lit <0,001 |_9 | Cadmi (Cd) mgilít 0,005-0,1 | 10 | Asen (As) mgilít 0,05-0,1 II | Chì (Pb) mg/lít <0,1 12 | Crom (Cr) me/lit 0,1 13 ikem (Zn) mg/lít <1 khi pH<ó,5; <5 khi pH>6,5 14 _| Fecal coliform MPN/100ml <200 O Ty sé hap thu natri- SAR Bảng 4. Hàm lượng kim loại nặng cho phép trong sản phẩm chè (Quyét dinh sé 867/1998/ OD ~ BYT ngày 04/04/1998) Tên thực Hàm lượng kim loại nặng cho phép (mg/kg) phẩm As Pb | Cu Sn Zn Hg | Cd | Sd | che va san 1 2 150 40 40 0,05 1 1 phẩm | 10 Bảng 5.
Mức giới hạn tối đa cho phép (MRLs) của một số thuốc bảo vệ thực vật trên chè của các nước và khu vực (mg/kg) TT | Tên hoá chất Theo EU | Theo Anh | Theo Hà Lan | Theo Đức 1. Thị trường chè an toàn và nhu cầu tiêu thụ của thị trường chè thế giới: Nhìn chung, nhu cầu tiêu thụ chè cao nhất trên thế giới thuộc về khu vực Nga và cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG), chiếm 44% lượng chè nhập khẩu của thé giới, sau đó là Bắc Mỹ và Trung Đông. Qua phân tích thị trường chè thế giới nhận thấy: Kenya hiện là nước chiếm giữ khoảng 22% thị phần chè toàn cầu và nằm trong 3 nước xuất khâu chè hang đầu thế giới (cùng với Ấn Độ và Srilanka). Tuy nhiên, đây vẫn là mức thấp so với khả năng của nước này do lượng cung cấp chè hiện nay trên thế giới đã vượt cầu.
Đứng trước nhu cầu về các sản phẩm chè chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng tăng, Chính phủ Kenya đã thúc giục các nhà sản xuất trong nước (và kêu gọi các nước xuất khẩu chè khác) tập trung vào việc chuyển đổi cơ cấu giống sang trồng các giống chè mới có năng suất và chất lượng cao. Cùng với đó là kiểm soát chặt chế quy trình canh tác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. 12 Các nước sản xuất chè lớn trên thế giới (Ấn Độ, Trung Quốc) thời kỳ trước đây đã phải trả giá đắt cho sản phẩm chè không an toàn, do sử dụng quá lớn thuốc trừ sâu, phân hoá học và không quan tâm đến ngăn ngừa ô nhiễm của vùng sản xuất. Hiện nay, yêu cầu của thị trường về các sản phẩm an toàn chất lượng cao ngày càng tăng nhưng đòi hỏi rất khắt khe về tiêu chuẩn.
Có nhiều bộ tiêu chuẩn được đã dược các nước nhập khẩu chè đưa ra áp dụng nhằm quản lý tốt hơn các sản phâm nhập khẩu như ISO, HACCP, GAP, GMP. Một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho giá chè Việt Nam thấp, chỉ bằng 50 — 70% chè thế giới, là do chè chất lượng thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu VSATTP. Chè của chúng ta rất khó khăn đề thâm nhập vào thị trường khó tính như EU, thị trường Mỹ hay một số nước Bắc Âu.