Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên ngành kế toán kiểm toán đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ sinh viên ngành kế toán kiểm toán đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Trường đại học

Đại học Kinh tế Huế

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

66
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC SƠ ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Khái quát chung về điều chỉnh lợi nhuận kế toán

1.2. Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận

1.3. Động cơ điều chỉnh lợi nhuận

1.4. Vấn đề đạo đức của hành vi điều chỉnh lợi nhuận kế toán

1.5. Tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài

1.5.1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới trước đây liên quan đến đề tài

1.5.2. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở Việt Nam

1.6. Phát triển giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu

1.6.1. Phát triển giả thuyết

1.6.2. Đề xuất mô hình nghiên cứu

1.6.2.1. Thang đo chủ nghĩa duy tâm (Idealists)
1.6.2.2. Thang đo thuyết tương đối văn hóa (Relativists)
1.6.2.3. Thang đo thiên hướng muốn vi phạm đạo đức
1.6.2.4. Thang đo thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận

2. CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm mẫu điều tra

2.1.1. Cơ cấu mẫu điều tra phân theo giới tính

2.1.2. Cơ cấu mẫu điều tra phân theo độ tuổi

2.1.3. Cơ cấu mẫu điều tra phân theo năm học

2.1.4. Cơ cấu mẫu điều tra phân theo đạo

2.1.5. Cơ cấu mẫu điều tra phân theo chuyên ngành

2.1.6. Cơ cấu mẫu điều tra phân theo điểm trung bình kết quả học tập

2.1.7. Cơ cấu mẫu sinh viên theo các biến nghiên cứu

2.2. Phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmatory Factor Analysis)

2.2.1. Phân tích nhân tố khẳng định với biến chủ nghĩa duy tâm

2.2.2. Phân tích nhân tố khẳng định với biến thuyết tương đối văn hóa

2.2.3. Phân tích nhân tố khẳng định với biến thiên hướng muốn vi phạm đạo đức

2.2.4. Phân tích nhân tố khẳng định với biến thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận

2.3. Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha

2.3.1. Phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo chủ nghĩa duy tâm

2.3.2. Phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo thuyết tương đối văn hóa

2.3.3. Phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo muốn vi phạm đạo đức

2.3.4. Phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận

2.4. Kiểm định đa cộng tuyến giữa các biến

2.5. Kết quả phân tích hồi quy

2.6. Đánh giá sự phù hợp của mô hình

2.7. Kiểm định độ tin cậy của mô hình

2.8. Kiểm định giả thuyết về các hệ số của mô hình hồi quy

2.9. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

3.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

3.2. Đóng góp của đề tài

3.2.1. Đóng góp về mặt thực tiễn và những gợi ý cho chương trình đào tạo, nhà quản lý

3.3. Hạn chế của đề tài và gợi ý cho những đề tài nghiên cứu tiếp theo

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về yếu tố ảnh hưởng đến thái độ sinh viên kế toán

Nghiên cứu về thái độ sinh viên kế toán đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực kế toán. Các yếu tố như môi trường học tập, sự hài lòng của sinh viên và động lực học tập có thể ảnh hưởng đến thái độ này. Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp cải thiện chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức về đạo đức nghề nghiệp trong ngành kế toán.

1.1. Môi trường học tập và thái độ sinh viên

Môi trường học tập đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ sinh viên kế toán. Một môi trường học tập tích cực, với sự hỗ trợ từ giảng viên và bạn bè, có thể tạo ra động lực học tập cao hơn và giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

1.2. Sự hài lòng của sinh viên và hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Sự hài lòng của sinh viên với chương trình học và giảng viên có thể ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Sinh viên hài lòng thường có xu hướng tuân thủ đạo đức nghề nghiệp hơn, từ đó giảm thiểu khả năng tham gia vào các hành vi không đúng đắn.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu thái độ sinh viên

Nghiên cứu về thái độ sinh viên kế toán đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như áp lực từ môi trường học tập, sự thiếu hụt thông tin và nhận thức về đạo đức nghề nghiệp có thể làm giảm tính chính xác của kết quả nghiên cứu.

2.1. Áp lực từ môi trường học tập

Áp lực từ việc học tập và thi cử có thể khiến sinh viên cảm thấy cần phải điều chỉnh lợi nhuận để đạt được kết quả tốt hơn. Điều này tạo ra một mâu thuẫn giữa đạo đức nghề nghiệp và thành tích học tập.

2.2. Thiếu hụt thông tin về đạo đức nghề nghiệp

Nhiều sinh viên chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về đạo đức nghề nghiệp trong kế toán. Sự thiếu hụt này có thể dẫn đến việc họ không nhận thức được hậu quả của hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

III. Phương pháp nghiên cứu thái độ sinh viên đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ sinh viên kế toán, phương pháp khảo sát định lượng được sử dụng. Bảng hỏi được thiết kế để thu thập dữ liệu từ sinh viên, giúp phân tích các yếu tố như động lực học tập và sự hài lòng.

3.1. Thiết kế bảng hỏi khảo sát

Bảng hỏi khảo sát được xây dựng dựa trên các thang đo đã được kiểm định. Các câu hỏi được thiết kế để đo lường mức độ đồng ý của sinh viên với các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của họ.

3.2. Phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Phân tích hồi quy sẽ giúp xác định mối quan hệ giữa các yếu tố và thái độ của sinh viên.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu thái độ sinh viên

Kết quả nghiên cứu về thái độ sinh viên kế toán có thể được ứng dụng trong việc cải thiện chương trình đào tạo. Các nhà quản lý giáo dục có thể sử dụng thông tin này để điều chỉnh nội dung giảng dạy và nâng cao nhận thức về đạo đức nghề nghiệp.

4.1. Cải thiện chương trình đào tạo

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các trường đại học có thể điều chỉnh chương trình đào tạo để tăng cường kiến thức về đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên, từ đó giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

4.2. Tăng cường hỗ trợ từ giảng viên

Giảng viên cần đóng vai trò tích cực trong việc hướng dẫn sinh viên về các vấn đề đạo đức trong kế toán. Sự hỗ trợ này có thể giúp sinh viên phát triển thái độ tích cực đối với nghề nghiệp.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về thái độ sinh viên kế toán đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận là cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo. Tương lai của nghiên cứu này có thể mở ra nhiều hướng đi mới trong việc cải thiện đạo đức nghề nghiệp trong ngành kế toán.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về thái độ sinh viên mà còn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong ngành kế toán.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ sinh viên, từ đó phát triển các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của ngành kế toán.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

14/07/2025
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên ngành kế toán kiểm toán đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về điều chỉnh lợi nhuận kế toán 1. Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là hành vi của các doanh nghiệp để điều chỉnh lợi nhuận của năm nay sang năm sau hoặc ngược lại. Trong các nghiên cứu chuyên sâu, hành vi này có thể thực hiện bằng các hoạt động thực tế (real earnings management) hoặc bằng các phương pháp kế toán (accrual earnings management).

Đề tài này chỉ nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng phương pháp kế toán nên tất cả các khái niệm và thuật ngữ “hành vi điều chỉnh lợi nhuận” sau đây là ám chỉ hành vi thực hiện thông qua các phương pháp kế toán để làm thay đổi lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp. Theo Elias (2002), điều chỉnh lợi nhuận là việc nhà quản lý sử dụng đánh giá chủ quan trong quá trình lập, công bố báo cáo tài chính và thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi thông tin nhằm đánh lừa các bên có liên quan, hoặc thay đổi kết quả các hợp đồng có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán. Điều chỉnh lợi nhuận được dịch từ thuật ngữ tiếng anh được sử dụng rất phổ biến trong giới nghiên cứu kế toán là “earnings management”. Ở Việt Nam, khái niệm này được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: “làm đẹp báo cáo tài chính”, “phù phép báo cáo tài chính”, “thổi phồng lợi nhuận”, “quản trị lợi nhuận”, “xào nấu số liệu”.

Dù được gọi dưới nhiều thuật ngữ khác nhau nhưng về bản chất, điều chỉnh lợi nhuận là việc làm méo mó số liệu lợi nhuận được thực hiện thông qua việc điều chỉnh doanh thu hoặc chi phí. Theo Brandco Lawfirm - Công ty tư vấn luật hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư và tài chính kế toán, điều chỉnh lợi nhuận là hành động làm thay đổi lợi nhuận kế toán của nhà quản trị công ty nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán. Như vậy, người trực tiếp thực hiện các hành động điều chỉnh lợi nhuận chính là nhà quản lý nhằm mục đích làm sai lệch số liệu lợi nhuận công bố. Theo Degeorge và cộng sự (1999), mục tiêu chính của các công ty cổ phần là tối SVTH: LÊ THỊ MỸ LINH 7 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Hồ Thị Thúy Nga đa hoá giá trị của cổ đông bằng cách khai thác tài sản được đầu tư bằng vốn cổ phần và nợ phải trả.

Để huy động vốn, các nhà đầu tư cần được khuyến khích thực hiện đầu tư và điều này chỉ xảy ra nếu nhà đầu tư kỳ vọng tích cực về hiệu quả hoạt động trong tương lai của công ty. Bởi vậy, vì lợi ích của công ty, các công ty thường điều chỉnh báo cáo tài chính để khai khống doanh thu và lợi nhuận để làm cho người sử dụng thông tin tin tưởng là công ty vẫn có tình hình tài chính tốt và quyết định đầu tư vào công ty (Joosten, 2012). Theo Levitt (1998) lưu ý rằng hậu quả chung của điều chỉnh lợi nhuận là sự xói mòn niềm tin của các cổ đông vào công ty và làm thiệt hại cho các cổ đông cũng như nền kinh tế. Động cơ điều chỉnh lợi nhuận Lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất trên báo cáo tài chính, cụ thể là Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, là nhân tố quyết định giá cổ phiếu, số thuế TNDN phải nộp hay nhiều vấn đề khác.

Đơn cử như về thị trường vốn, khi các nhà đầu tư và các nhà phân tích tài chính muốn dự báo dòng tiền trong tương lai, họ sử dụng thông tin về lợi nhuận để định giá cổ phiếu của công ty, từ đó xem xét, đánh giá tình hình đầu tư vốn. Trong khi đó các ngân hàng dựa vào báo cáo này để quyết định cho vay hay không. Nhà nước sử dụng báo cáo này để lập kế hoạch dài hạn, có thể liên quan đến các chính sách phát triển các loại hình doanh nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng cho một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ưu tiên. Các nhân viên tương lai có thể tham khảo báo cáo này để đưa ra quyết định về việc làm.

Theo Ngô Thị Khánh Linh, Nguyễn Thị Mai Lê (2018), nhà quản lý có động cơ điều chỉnh lợi nhuận khi lợi nhuận thực (lợi nhuận không điều chỉnh) khác với mục tiêu của nhà quản lý. Lợi nhuận thực có thể quá cao hoặc quá thấp, còn mục tiêu của nhà quản lý thì được xác định trên cơ sở kỳ vọng của các cổ đông hoặc các bên liên quan. Về động cơ cá nhân, nhà quản lý mới được bổ nhiệm có thể điều chỉnh lợi nhuận giảm trong năm thay đổi nhân sự và điều chỉnh lợi nhuận tăng lên trong năm tiếp theo để thể hiện rằng trong năm mình lên điều hành công ty có mức lợi nhuận tốt và từ đó có thể bảo vệ được vị trí việc làm của mình. Cũng có thể nhà quản lý muốn SVTH: LÊ THỊ MỸ LINH 8 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Hồ Thị Thúy Nga thăng tiến hoặc tăng lương thưởng từ cổ đông nhờ kết quả kinh doanh tốt.

Về chi phí chính trị, các công ty có thể điều chỉnh số liệu lợi nhuận được báo cáo nhằm tránh sự can thiệp của chính phủ hoặc hưởng ưu đãi thuế, bởi số liệu kế toán là cơ sở để tính thuế. Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Trang (2012) vận dụng mô hình điều chỉnh lợi nhuận của DeAngelo (1986) và Friedlan (1994) thu thập số liệu từ báo cáo tài chính của 20 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được lựa chọn ngẫu nhiên tương ứng 4 loại hình doanh nghiệp khác nhau (DNNN, DNTN, CTCP, CTTNHH) để nhận dạng việc điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị, qua đó cho thấy, động cơ điều chỉnh lợi nhuận của từng loại doanh nghiệp là khác nhau. Thông thường, đối với CTCP, động cơ điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế TNDN không phải lúc nào cũng được ưu tiên lựa chọn, mà có thể động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài.

Các loại hình doanh nghiệp còn lại vì không bán chứng khoán trên thị trường nên ít quan tâm đến việc điều chỉnh tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài và thường sẽ ưu tiên lựa chọn điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chí phí thuế TNDN. Vấn đề đạo đức của hành vi điều chỉnh lợi nhuận kế toán Mặc dù hành động điều chỉnh lợi nhuận là hoàn toàn không mới trong ngành kế toán, nhưng các chiến lược để thực hiện những hành động này là những bí mật của các giám đốc điều hành của công ty. Có một ranh giới nhỏ giữa điều chỉnh lợi nhuận và gian lận mà các nhà quản lý không muốn thảo luận về mối liên kết này (Brown, 1999). Tuy nhiên, bất kỳ khoản lợi nhuận nào được điều chỉnh là không thể chấp nhận, bất kể về vật chất (Grant, 2000).

Việc che dấu đi những khoản lợi nhuận thì trên thực tế nhà đầu tư phải biết, để tránh dẫn tới những quyết định sai lầm. Mặt khác nhiều học giả không đồng ý với những lập luận trên. Due (1988) lập luận rằng các cổ đông hiện tại có thái độ tích cực về hành vi điều chỉnh lợi nhuận để tối đa hóa giá trị cổ phiếu bằng chi phí của nó trong tương lai, do đó họ khuyến khích hành động điều chỉnh lợi nhuận. Kaplan (2001) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm sử dụng các tình huống liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, phân biệt giữa các hành động điều chỉnh có lợi cho công ty và những hành động có lợi cho cá nhân người SVTH: LÊ THỊ MỸ LINH 9 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Hồ Thị Thúy Nga quản lý.

Kết quả cho thấy các cổ đông đánh giá hành vi điều chỉnh lợi nhuận đạo đức hơn khi họ được hưởng lợi ích từ công ty. Tuy nhiên với những người không phải là cổ đông, họ đánh giá hành vi này là phi đạo đức hơn. Dobson (1999) lưu ý rằng gia tăng các hành vi về đạo đức kinh doanh có thể dẫn đến việc xem xét lại mục tiêu cuối cùng mà công ty muốn đạt được: “Tối đa hóa tài sản của cổ đông”. Bởi mục tiêu đạt được cái này hay cái kia là một biện minh về đạo đức cho các hành vi trong kinh doanh.

Parget (2000) lại cho rằng điều chỉnh lợi nhuận không hẳn là tiêu cực, đó là điều cần thiết và hợp lí thể hiện sự linh hoạt trong các tùy chọn báo cáo tài chính. Bởi nếu người quản lý có trách nhiệm tối đa hóa giá trị của cổ đông thì người quản lý phải chọn trong số tất cả các lựa chọn pháp lý giúp đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng phân biệt “tốt” và “xấu” của điều chỉnh lợi nhuận. Điều chỉnh lợi nhuận “tốt” xảy ra khi người quản lý tạo ra hiệu suất tài chính ổn định bằng các quyết định kinh doanh tự nguyện có thể chấp nhận được, và vì nó không được xem là hành vi tiêu cực hay gian lận nên không bị cấm.

Điều chỉnh lợi nhuận “xấu” xảy ra khi người quản lý tạo ra các khoản mục kế toán nhân tạo hoặc ước tính kéo dài vượt quá giới hạn hợp lý. Tóm lại, có những trường hợp hành vi điều chỉnh lợi nhuận là hợp pháp và ngược lại. Tuy nhiên, trường hợp nào đi chăng nữa thì hành vi điều chỉnh lợi nhuận xét cho cùng là hành vi phi đạo đức – không trung thực, bởi nó làm thay đổi đi thông tin tài chính thực tế của công ty, dẫn tới người sử dụng thông tin dễ có những quyết định sai lầm. Tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài 1.

Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới trước đây liên quan đến đề tài Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận với đối tượng khảo sát là sinh viên đại học, học viên cao học hoặc kế toán viên chuyên nghiệp. Shafer và Wang (2010) đã nghiên cứu thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhân viên kế toán làm việc ở 10 công ty địa phương tại Trung Quốc và 5 công ty đa quốc gia. Nghiên cứu chỉ ra rằng người Hoa Kỳ có xu hướng xem các thao SVTH: LÊ THỊ MỸ LINH 10 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Hồ Thị Thúy Nga tác kế toán là phi đạo đức nhưng thao tác vận hành là đạo đức; trong khi những người Trung Quốc tương đối mâu thuẫn về tính chấp nhận đạo đức của hành vi và vận hành nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ