Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số, ngành kế toán - kiểm toán đứng trước những yêu cầu ngày càng khắt khe không chỉ về năng lực chuyên môn mà đặc biệt là phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Thống kê từ Hiệp hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) chỉ ra rằng có tới 2/3 sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán, kiểm toán chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của nhà tuyển dụng. Trên thực tế, thông tin trên báo cáo tài chính là cơ sở cốt lõi để các nhà đầu tư, ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước đưa ra quyết định kinh tế. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh đã khiến nhiều doanh nghiệp thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận (earnings management) nhằm làm đẹp các chỉ số tài chính.

Lịch sử tài chính thế giới đã chứng kiến nhiều vụ bê bối kế toán nghiêm trọng gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD như vụ Enron (2001, thất thoát 74 tỷ USD vốn hóa), WorldCom (2002, thiệt hại hơn 180 tỷ USD), Lehman Brothers (2008, giao dịch chứng khoán CDO 50 tỷ USD), và Olympus (2011, che giấu thua lỗ 1,7 tỷ USD). Tại Việt Nam, các trường hợp điển hình như vụ lỗ gần 1.000 tỷ đồng sau kiểm toán tại Công ty Gỗ Trường Thành hay vụ án tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Yên Khánh (năm 2018) can thiệp phần mềm kế toán để che giấu doanh thu thu phí cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Trung Lương cho thấy tính chất nghiêm trọng của sự suy thoái đạo đức nghề nghiệp.

Trong khi các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung đo lường mức độ điều chỉnh lợi nhuận thực tế tại các công ty niêm yết (Lê Thị Hoài Anh và cộng sự, 2015; Phạm Kim Ngọc và cộng sự, 2017; Hồ Thị Thúy Nga và Phạm Thị Bích Ngọc, 2018), thì khía cạnh nhận thức và thái độ đạo đức của sinh viên – lực lượng kế toán, kiểm toán tương lai – đối với hành vi này vẫn chưa được khảo sát thực nghiệm. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Mỹ Linh được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên ngành Kế toán, Kiểm toán Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về điều chỉnh lợi nhuận và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận, phát triển giả thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu.
    2. Đánh giá thực nghiệm mức độ tác động của các yếu tố (triết lý đạo đức cá nhân, thiên hướng vi phạm đạo đức, đặc điểm nhân khẩu học) đến thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận từ dữ liệu khảo sát.
    3. Đề xuất một số gợi ý cho chương trình đào tạo nhằm nâng cao nhận thức và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thái độ của sinh viên ngành Kế toán, Kiểm toán đối với các hành vi điều chỉnh lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ này.
  • Đối tượng khảo sát: Sinh viên năm thứ 3 và năm thứ 4 chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế (niên khóa 2015 – 2019).
  • Phạm vi nội dung: Giới hạn ở hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua phương pháp kế toán dồn tích (Accrual earnings management), không nghiên cứu hành vi điều chỉnh thông qua hoạt động quản lý thực tế (Real earnings management).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và các khái niệm nền tảng

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và khái niệm khoa học sau:

  • Lý thuyết phát triển đạo đức (Moral Development Theory - Kohlberg, 1969, 1984): Giải thích sự khác biệt trong định hướng đạo đức giữa nam giới (thiên về công lý, nguyên tắc) và nữ giới (thiên về quan hệ, sự thấu cảm).
  • Lý thuyết vai trò xã hội (Social Role Theory - Eagly, 1987): Phân tích sự khác biệt hành vi giữa các giới dựa trên kỳ vọng và chuẩn mực xã hội.
  • Triết lý đạo đức cá nhân (Personal Moral Philosophies - Forsyth, 1980):
    • Chủ nghĩa duy tâm (Idealism): Đo lường niềm tin rằng các hành vi đúng đắn không được gây tổn hại cho người khác và phải tuân theo các chuẩn mực đạo đức phổ quát.
    • Thuyết tương đối văn hóa (Relativism): Đo lường mức độ cá nhân bác bỏ các nguyên tắc đạo đức tuyệt đối, cho rằng tính đúng sai phụ thuộc vào hoàn cảnh và quan điểm cá nhân.
  • Thiên hướng muốn vi phạm đạo đức (Machiavellianism/Amoral tendencies - Christie & Geis, 1970; Dahling, Whitaker & Levy, 2009): Mô tả cá nhân có xu hướng thao túng, thực dụng và sẵn sàng vi phạm chuẩn mực đạo đức để đạt mục tiêu.
  • Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận (Elias, 2002): Việc nhà quản lý sử dụng đánh giá chủ quan trong quá trình lập, công bố báo cáo tài chính và thực hiện nghiệp vụ kinh tế nhằm làm thay đổi thông tin tài chính thực tế để đánh lừa các bên liên quan hoặc can thiệp vào các hợp đồng ràng buộc.

Phương pháp nghiên cứu và mô hình thực nghiệm

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp định lượng qua khảo sát bảng hỏi:

  • Thu thập dữ liệu: Khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi thiết kế theo thang đo Likert 7 điểm (từ 1: "Hoàn toàn không đồng ý" đến 7: "Hoàn toàn đồng ý").
  • Quy mô mẫu: Kích thước mẫu được xác định dựa trên nguyên tắc phân tích nhân tố $N \ge 5 \times k$ (với $k = 30$ biến quan sát, yêu cầu tối thiểu 150 mẫu theo Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc). Tác giả phát ra 200 phiếu, thu về 170 phiếu hợp lệ (30 phiếu bị loại do thiếu thông tin hoặc chọn đơn nhất một mức độ).
  • Quy trình phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm AMOS Graphics để phân tích nhân tố khẳng định (CFA - Confirmatory Factor Analysis) nhằm kiểm định độ giá trị của các thang đo kế thừa; sử dụng phần mềm SPSS để kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số VIF), và phân tích hồi quy tuyến tính OLS.

Mô hình hồi quy đa biến được xác lập: $$\text{EM} = \beta_0 + \beta_1 \text{Age} + \beta_2 \text{V1} + \beta_3 \text{Dao} + \beta_4 \text{Score} + \beta_5 \text{Gender} - \beta_6 \text{Duytam} + \beta_7 \text{Tuongdoivanhoa} + \beta_8 \text{Amoral}$$

Trong đó:

  • $\text{EM}$: Thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận (biến phụ thuộc)
  • $\text{Age}$: Độ tuổi; $\text{V1}$: Năm học; $\text{Dao}$: Tôn giáo; $\text{Score}$: Điểm trung bình môn học; $\text{Gender}$: Giới tính
  • $\text{Duytam}$: Chủ nghĩa duy tâm; $\text{Tuongdoivanhoa}$: Thuyết tương đối văn hóa; $\text{Amoral}$: Thiên hướng muốn vi phạm đạo đức

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa cơ sở lý luận về điều chỉnh lợi nhuận kế toán, động cơ quản trị lợi nhuận (động cơ thị trường vốn, động cơ cá nhân của nhà quản trị, áp lực chi phí chính trị và thuế TNDN theo DeAngelo, Friedlan, Nguyễn Thị Minh Trang). Tác giả phân tích các quan điểm học thuật đối lập về tính đạo đức của hành vi này: quan điểm xem điều chỉnh lợi nhuận là gian lận phi đạo đức (Grant, 2000; Levitt, 1998) đối chiếu với quan điểm coi đây là sự linh hoạt kế toán hợp pháp nhằm tối đa hóa giá trị cổ đông (Kaplan, 2001; Parget, 2000).

Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu quốc tế liên quan (Fischer & Rosenzweig, 1995; Elias, 2002; Shafer & Wang, 2010, 2011) và xây dựng 4 giả thuyết nghiên cứu chính:

  • H1: Sinh viên nam có thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận khoan dung hơn so với sinh viên nữ.
  • H2: Sinh viên tin nhiều vào chủ nghĩa duy tâm có thái độ khắc nghiệt hơn đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
  • H3: Sinh viên tin nhiều vào thuyết tương đối văn hóa có thái độ khoan dung hơn đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
  • H4: Sinh viên có thiên hướng muốn vi phạm đạo đức càng cao thì càng khoan dung với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Chương cũng trình bày chi tiết hệ thống thang đo gồm: 9 biến quan sát chủ nghĩa duy tâm (Forsyth, 1980), 11 biến quan sát thuyết tương đối văn hóa (Forsyth, 1980), 5 biến quan sát thiên hướng vi phạm đạo đức (Dahling và cộng sự, 2009), và 5 tình huống giả định đo lường thái độ đối với điều chỉnh lợi nhuận kế toán (Elias, 2002; Merchant, 1989; Fischer & Rosenzweig, 1995).

Chương 2: Kết quả nghiên cứu

Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả phân tích thống kê mô tả, kiểm định CFA, Cronbach's Alpha và phân tích hồi quy thực nghiệm.

1. Thống kê mô tả đặc điểm mẫu điều tra ($N = 170$)

Tiêu chí phân loại Nhóm phân loại Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nữ 140 82,4%
Nam 30 17,6%
Độ tuổi 20 tuổi 92 54,1%
21 tuổi 54 31,8%
22 tuổi 21 12,4%
23 tuổi 3 1,8%
Năm học Sinh viên năm 3 121 71,2%
Sinh viên năm 4 49 28,8%
Tôn giáo Không theo đạo 124 72,9%
Đạo Phật 42 24,7%
Thiên Chúa giáo 4 2,4%
Chuyên ngành Kế toán 86 50,6%
Kiểm toán 84 49,4%
Điểm TB tích lũy Dưới 5.0 4 2,4%
Từ 6.0 đến dưới 7.0 54 31,8%
Từ 7.0 đến dưới 8.0 94 55,3%
Từ 8.0 trở lên 18 10,6%

Điểm trung bình của các biến nghiên cứu chính ghi nhận: Thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận đạt mức trung bình 3,2/7,0; Chủ nghĩa duy tâm đạt 5,0/7,0; Thuyết tương đối văn hóa đạt 5,0/7,0; Thiên hướng muốn vi phạm đạo đức đạt 3,0/7,0.

2. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và kiểm định Cronbach's Alpha

  • Chủ nghĩa duy tâm: Kiểm định CFA lần 1 (9 biến) không đạt độ phù hợp. Sau khi loại 5 biến (A1, A2, A3, A7, A9 do hệ số tải $< 0,5$), mô hình kiểm định lần 2 giữ lại 4 biến (A4, A5, A6, A8) đạt độ tương thích cao ($\text{Chi}^2/\text{df} = 0,150$; $\text{GFI} = 0,999$; $\text{CFI} = 0,999$; $\text{RMSEA} = 0,000$). Cronbach's Alpha đạt 0,852.
  • Thuyết tương đối văn hóa: CFA lần 1 loại 3 biến (A10, A11, A20). CFA lần 2 giữ lại 8 biến (A12 đến A19) đạt độ phù hợp ($\text{Chi}^2/\text{df} = 1,542$; $\text{GFI} = 0,958$; $\text{CFI} = 0,965$; $\text{RMSEA} = 0,057$). Cronbach's Alpha đạt 0,793.
  • Thiên hướng muốn vi phạm đạo đức: Giữ nguyên 5 biến (C1 đến C5), các chỉ số CFA sau điều chỉnh hiệp phương sai đạt chuẩn ($\text{Chi}^2/\text{df} = 1,780$; $\text{GFI} = 0,984$; $\text{CFI} = 0,992$; $\text{RMSEA} = 0,068$). Cronbach's Alpha đạt 0,864.
  • Thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận: Giữ lại 4 biến quan sát tình huống sau khi chuẩn hóa, các chỉ số CFA đạt $\text{Chi}^2/\text{df} = 1,026$; $\text{GFI} = 0,994$; $\text{CFI} = 0,999$; $\text{RMSEA} = 0,012$. Cronbach's Alpha đạt 0,731.

3. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính

Kiểm định đa cộng tuyến cho thấy tất cả các biến độc lập đều có hệ số $\text{VIF} < 2$ (cao nhất là Năm học với $\text{VIF} = 1,988$; Tuổi với $\text{VIF} = 1,970$), khẳng định không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

Mô hình hồi quy có hệ số $R = 0,494$, $R^2 = 0,244$, $R^2 \text{ hiệu chỉnh} = 0,206$, Sai số chuẩn ước lượng = $1,054$. Kiểm định ANOVA cho giá trị $F = 6,482$ với $\text{Sig.} = 0,000$, chứng minh mô hình có ý nghĩa thống kê và giải thích được 20,6% sự biến thiên của thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Biến độc lập Hệ số B Sai số chuẩn Hệ số chuẩn hóa (Beta) Thống kê t Mức ý nghĩa (Sig.) Kết luận
Hằng số -0,001 2,991 0,000 1,000
Tuổi 0,084 0,148 0,055 0,567 0,572 Không có ý nghĩa
Năm học -0,229 0,252 -0,088 -0,911 0,364 Không có ý nghĩa
Đạo -0,187 0,188 -0,070 -0,994 0,322 Không có ý nghĩa
Điểm trung bình -0,023 0,123 -0,013 -0,185 0,853 Không có ý nghĩa
Giới tính -0,104 0,219 -0,034 -0,476 0,635 Không có ý nghĩa
Chủ nghĩa duy tâm -0,030 0,089 -0,026 -0,341 0,734 Không có ý nghĩa
Thuyết tương đối văn hóa 0,254 0,090 0,211 2,823 0,005 Có ý nghĩa thống kê
Thiên hướng vi phạm đạo đức 0,429 0,073 0,417 5,845 0,000 Có ý nghĩa thống kê

Chương 3: Thảo luận kết quả nghiên cứu và những đóng góp của đề tài

Chương này so sánh phát hiện thực nghiệm với các công trình nghiên cứu trên thế giới:

  • Về yếu tố Giới tính (H1 bị bác bỏ): Nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ ($\text{Sig.} = 0,635$). Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Barnett & Karson (1989), Harris (1990), Karcher (1996), Shafer, Morris & Ketchand (2001) rằng giới tính không tạo nên sự khác biệt trong việc ra quyết định đạo đức; tuy nhiên khác biệt với các kết luận của Shafer & Wang (2010) và Stedham và cộng sự (2007). Sự chênh lệch tỷ lệ mẫu (82,4% nữ so với 17,6% nam) do đặc thù ngành học là nguyên nhân thực tế giải thích kết quả này.
  • Về Chủ nghĩa duy tâm (H2 bị bác bỏ): Yếu tố này không có tác động mang ý nghĩa thống kê ($\text{Sig.} = 0,734$), trái với kết quả của Barnett và cộng sự (1994) và Elias (2002).
  • Về Thuyết tương đối văn hóa (H3 được chấp nhận): Có tác động cùng chiều ($\beta = 0,254; p = 0,005$). Sinh viên có tư duy tương đối, linh hoạt chuẩn mực đạo đức theo hoàn cảnh sẽ có xu hướng khoan dung hơn với các hành vi điều chỉnh lợi nhuận, hoàn toàn khớp với Elias (2002).
  • Về Thiên hướng muốn vi phạm đạo đức (H4 được chấp nhận): Đây là nhân tố có tác động mạnh nhất trong mô hình ($\beta = 0,429; p = 0,000$). Những cá nhân có tính thực dụng, đặt mục tiêu thành công cá nhân lên trên chuẩn mực chung có mức độ chấp nhận hành vi bóp méo số liệu kế toán cao hơn đáng kể, củng cố nhận định của Christie & Geis (1970) và Shafer & Wang (2011).

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết

Giả thuyết Nội dung giả thuyết Kết quả kiểm định
H1 Sinh viên nam có thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận khoan dung hơn so với sinh viên nữ. Không chấp nhận ($p = 0,635 > 0,1$)
H2 Sinh viên có triết lý đạo đức cá nhân tin nhiều vào chủ nghĩa duy tâm có thái độ khắc nghiệt hơn. Không chấp nhận ($p = 0,734 > 0,1$)
H3 Sinh viên có triết lý đạo đức tin nhiều vào thuyết tương đối văn hóa có thái độ khoan dung hơn. Chấp nhận ($\beta = 0,254; p = 0,005 < 0,01$)
H4 Sinh viên có thiên hướng muốn vi phạm đạo đức càng cao thì càng khoan dung với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Chấp nhận ($\beta = 0,429; p = 0,000 < 0,01$)

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

Dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất các gợi ý thực tiễn cho công tác đào tạo tại các trường đại học khối kinh tế:

  • Tích hợp môn Đạo đức nghề nghiệp Kế toán - Kiểm toán: Cần đưa các học phần hoặc chuyên đề chuyên sâu về đạo đức nghề nghiệp vào chương trình giảng dạy chính khóa thay vì chỉ giảng dạy thuần túy về kỹ thuật hạch toán và chuẩn mực kế toán.
  • Đổi mới phương pháp giảng dạy qua tình huống thực tế (Case studies): Sử dụng các tình huống điển hình về điều chỉnh lợi nhuận và gian lận báo cáo tài chính thực tế để sinh viên thảo luận, nhận diện ranh giới giữa linh hoạt kế toán và vi phạm pháp luật/đạo đức.
  • Định hướng giá trị chuẩn mực nghề nghiệp: Tăng cường tuyên truyền, kiểm tra nhằm giảm thiểu tâm lý thực dụng, vị kỷ (thiên hướng vi phạm đạo đức) và tư duy biện minh theo hoàn cảnh (thuyết tương đối văn hóa) trước khi sinh viên gia nhập thị trường lao động.

Đóng góp học thuật tự nêu

  • Là công trình nghiên cứu tiên phong tại Việt Nam khảo sát thực nghiệm về thái độ đạo đức của sinh viên kế toán - kiểm toán đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận dồn tích.
  • Kiểm định lại tính thích ứng của hệ thống thang đo quốc tế (Forsyth, 1980; Dahling và cộng sự, 2009; Elias, 2002) trong môi trường giáo dục đại học tại Việt Nam bằng kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định CFA trên AMOS.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Quy mô và tính đại diện của mẫu: Mẫu nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, giới hạn trong phạm vi 170 sinh viên năm 3 và năm 4 tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế, do đó tính tổng quát hóa cho toàn bộ sinh viên khối ngành kinh tế trên cả nước còn hạn chế.
  • Cơ cấu mẫu mất cân bằng: Tỷ lệ sinh viên nữ chiếm đa số (82,4%) và sinh viên năm 3 chiếm 71,2% có thể ảnh hưởng đến kết quả kiểm định các biến nhân khẩu học (giới tính, năm học).
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu chỉ tập trung vào hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng phương pháp kế toán (Accrual earnings management), chưa bao quát hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng hành động quản lý thực tế (Real earnings management).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả gợi ý mở rộng phạm vi khảo sát tới nhiều trường đại học ở các vùng miền khác nhau, tăng kích thước mẫu điều tra, khảo sát thêm nhóm đối tượng kế toán viên và kiểm toán viên đang hành nghề, đồng thời bổ sung các biến số mới vào mô hình để nâng cao hệ số giải thích $R^2$.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Kế toán, Kiểm toán, Tài chính: Tham khảo khung lý thuyết về đạo đức nghề nghiệp, phương pháp thiết kế bảng hỏi dựa trên các tình huống giả định (scenarios), và quy trình xử lý định lượng kết hợp giữa AMOS (CFA) và SPSS (Cronbach's Alpha, Hồi quy OLS).
  • Giảng viên và nhà quản lý đào tạo đại học: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về nhận thức đạo đức của người học, hỗ trợ xây dựng đề cương môn học Đạo đức nghề nghiệp và lồng ghép giáo dục đạo đức vào các học phần Kế toán tài chính, Kiểm toán căn bản.
  • Các nghiên cứu kế tiếp về quản trị lợi nhuận: Cung cấp bộ thang đo tiếng Việt đã qua kiểm định độ tin cậy và độ giá trị cho các nghiên cứu hành vi trong kế toán.

Câu hỏi thường gặp

1. Kích thước mẫu khảo sát thực tế và tiêu chuẩn xác định kích thước mẫu trong khóa luận là bao nhiêu?
Khóa luận căn cứ theo tiêu chuẩn của Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc ($N \ge 5 \times k$, với 30 biến quan sát, mẫu tối thiểu là 150). Tác giả phát ra 200 phiếu khảo sát và thu về 170 phiếu hợp lệ từ sinh viên năm 3 và năm 4 Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế (30 phiếu bị loại do thiếu dữ liệu hoặc đánh giá trùng lặp một mức độ).

2. Vì sao tác giả sử dụng phân tích nhân tố khẳng định (CFA) thay vì phân tích nhân tố khám phá (EFA)?
Tác giả lý giải rằng phân tích EFA chỉ áp dụng khi nhà nghiên cứu tự xây dựng thang đo mới hoặc ghép nối các thang đo chưa từng được chuẩn hóa để khám phá cấu trúc nhân tố. Khóa luận này kế thừa nguyên vẹn các thang đo chuẩn quốc tế đã được kiểm chứng (Forsyth, 1980; Dahling và cộng sự, 2009; Elias, 2002) nên phương pháp CFA trên AMOS được lựa chọn để khẳng định tính phù hợp của thang đo đối với dữ liệu mẫu.

3. Những yếu tố nào thực sự tác động có ý nghĩa thống kê đến thái độ của sinh viên đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận?
Trong mô hình hồi quy gồm 8 biến, chỉ có 2 biến độc lập có ý nghĩa thống kê với $p < 0,01$:

  • Thiên hướng muốn vi phạm đạo đức ($\beta = 0,429; p = 0,000$): Tác động mạnh nhất, cùng chiều.
  • Thuyết tương đối văn hóa ($\beta = 0,254; p = 0,005$): Tác động cùng chiều. Các biến còn lại (Giới tính, Tuổi, Năm học, Tôn giáo, Điểm trung bình, Chủ nghĩa duy tâm) đều có $p > 0,1$ nên không có ý nghĩa thống kê.

4. Khóa luận đo lường biến phụ thuộc "Thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận" bằng cách nào?
Biến phụ thuộc được đo lường thông qua 5 tình huống kế toán dồn tích giả định kế thừa từ nghiên cứu của Elias (2002), Merchant (1989), Fischer & Rosenzweig (1995) gồm: chuyển chi phí tháng 12 sang tháng 1 năm sau; trả trước chi phí năm sau và ghi nhận vào năm nay khi lợi nhuận vượt kế hoạch; tăng trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho; yêu cầu nhà cung cấp hoãn xuất hóa đơn với chi phí không trọng yếu; và yêu cầu hoãn xuất hóa đơn với chi phí trọng yếu. Người trả lời đánh giá mức độ phù hợp chuẩn mực đạo đức của từng hành động trên thang Likert 7 điểm.

5. Mô hình hồi quy giải thích được bao nhiêu phần trăm sự biến thiên của thái độ đối với điều chỉnh lợi nhuận?
Mô hình có hệ số $R^2 \text{ hiệu chỉnh} = 0,206$, nghĩa là các biến độc lập trong mô hình giải thích được 20,6% sự thay đổi trong thái độ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận của sinh viên; 79,4% sự biến thiên còn lại chịu tác động của các yếu tố khác ngoài mô hình.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Mỹ Linh đã thực hiện phân tích thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên ngành Kế toán, Kiểm toán đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua phương pháp kế toán dồn tích. Kết quả nghiên cứu xác nhận rằng Thuyết tương đối văn hóa và Thiên hướng muốn vi phạm đạo đức là hai nhân tố có tác động thuận chiều mạnh mẽ nhất đến mức độ khoan dung đối với hành vi bóp méo báo cáo tài chính, trong khi các yếu tố nhân khẩu học và Chủ nghĩa duy tâm không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Các phát hiện này cung cấp căn cứ thực nghiệm quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học đổi mới chương trình đào tạo, tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng xử lý tình huống thực tế cho sinh viên trước khi bước vào thị trường lao động.