Chương 1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương này chủ yếu khái quát những nét chính về đề tài nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan.
Chương này bao gồm hai nội dung chính: (i) cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ thanh toán của khách hàng; (ii) Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và Việt Nam về lĩnh vực đang nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Chương này khái quát phương pháp và mô hình được sử dụng để đo lường, kiểm định và phân tích mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ thanh toán của khách hàng. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương này trình bày về kết quả đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ thanh toán của khách hàng dựa vào phương pháp và mô hình đã đề cập ở Chương 3. Dựa trên kết quả đó sẽ tiến hành phân tích và thảo luận kết quả đạt được. Kết luận và đề xuất. Ở chương này, tác giả đưa ra những giải pháp cho từng yếu tố nghiên cứu và hướng phát triển của nghiên cứu trong tương lai.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. THẺ THANH TOÁN 2. Khái niệm thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là một trong rất nhiều dịch vụ do các ngân hàng cung cấp. Tại Điều 24 của thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt, được ban hành kèm theo Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21 tháng 2 năm 1994 của Thống đốc NHNN, thẻ thanh toán được định nghĩa như sau: “Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động.” Năm 2007, khái niệm về các loại thẻ đã được sửa đổi lại trong Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, được ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc NHNN.
Theo đó, không sử dụng khái niệm thẻ thanh toán mà sử dụng khái niệm thẻ ngân hàng. “Thẻ ngân hàng” (dưới đây gọi tắt là “thẻ”): Là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận. Theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ, thẻ bao gồm: thẻ nội địa và thẻ quốc tế. Theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ, thẻ bao gồm: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước.” Như vậy, hiện vẫn chưa có một định nghĩa chính thức nào về thẻ thanh toán.
Do đó, sẽ tùy theo mục đích của từng nghiên cứu và cách tiếp cận của mỗi tác giả mà họ đưa ra những định nghĩa khác nhau về thẻ thanh toán. Tuy nhiên, nội dung những khái niệm này về cơ bản đã thể hiện được bản chất của thẻ thanh toán. Căn cứ vào những thuộc tính cơ bản của thẻ thanh toán và tham khảo khái niệm thẻ thanh toán mà tác giả trước đã nêu ra, đề tài đưa ra khái niệm chung nhất về thẻ thanh toán như sau: Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà qua đó cho phép người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt mặt tại các ngân hàng hoặc các máy rút tiền tự động hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán 7 thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa ngân hàng/tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant).
Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. Tóm lại, các cách diễn đạt trên đều phản ánh lên đây là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hóa dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hoặc các máy rút tiền tự động. Phân loại thẻ thanh toán Thẻ thanh toán có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau: theo công nghệ sản xuất, theo chủ thể phát hành, theo tính chất thanh toán của thẻ, theo phạm vi lãnh thổ… Nguyễn Minh Kiều (2007), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại đã chỉ ra cách phân loại thẻ theo tính chất thanh toán của thẻ như sau: Một là Thẻ ghi nợ (Debit Card). Đây là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi (nếu có) trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức phát hành thẻ.
Hai là Thẻ tín dụng (Credit Card). Đây là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Ba là Thẻ trả trước (Prepaid Card). Đây là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ.
Thẻ trả trước bao gồm: Thẻ trả trước định danh (có các thông tin định danh chủ thẻ) và thẻ trả trước vô danh (không có các thông tin định danh chủ thẻ). Lợi ích của việc sử dụng thẻ thanh toán Nguyễn Minh Kiều (2007), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại đã chỉ ra lợi ích của việc sử dụng thẻ thanh toán như sau: Đối với chủ thẻ Thứ nhất là sự tiện lợi. Chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ để rút tiền mặt hoặc tiếp nhận một số dịch vụ ngân hàng tại cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ, máy ATM, các ngân hàng thanh toán thẻ trong và ngoài nước. Khi dùng thẻ thanh toán, chủ thẻ có thể chi tiêu trước, trả tiền sau (đối với thẻ tín dụng), hoặc có thể thực hiện dịch vụ mua bán hàng hóa tại nhà… Thứ hai là an toàn.
Các loại thẻ thanh toán làm bằng công nghệ cao, chủ thẻ được cung cấp mã số cá nhân nên đảm bảo bí mật tuyệt đối, các khoản tiền được chuyển trực tiếp vào tài khoản cho nên tránh mất mát hoặc trộm cắp. Thứ ba là sự linh hoạt. Khi sử dụng thẻ tín dụng có thể giúp khách hàng điều chỉnh các khoản chi tiêu một cách hợp lý trong một khoảng thời gian nhất định với hạn mức tín dụng, tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong tiêu dùng, sinh hoạt cũng như sản xuất. Thứ tư là tính nhanh chóng, tiết kiệm thời gian.
Thẻ là một phương tiện thanh toán không sử dụng tiền mặt hiện đại. Do đó, khi mua hàng hóa, dịch vụ với giá trị thanh toán lớn thì chủ thẻ có thể nhanh chóng thực hiện giao dịch, tiết kiệm nhiều thời gian vận chuyển, kiểm đếm tiền, kiểm tra tiền thật tiền giả… Đối với ngân hàng Một là góp phần tăng thêm lượng khách hàng. Với những tiện ích to lớn mà thẻ ngân hàng mang lại tạo điều kiện cho các ngân hàng có thể mở rộng thị trường và tăng thêm lượng khách hàng sử dụng dịch vụ mà không cần phải mở thêm nhiều chi nhánh. Hai là góp phần tăng vốn cho các ngân hàng.
Nhờ thẻ mà số lượng tiền gởi của khách hàng để thanh toán thẻ và số lượng tài khoản của các cơ sở chấp nhận thẻ cũng tăng lên. Với giao dịch thẻ tương đối lớn, các tài khoản này sẽ tạo cho ngân hàng một lượng vốn đáng kể. 9 Ba là góp phần gia tăng lợi nhuận. Thông qua việc cung cấp dịch vụ thẻ, ngân hàng cũng tạo ra nguồn thu ổn định cho mình như thu phí phát hành thẻ, phí thường niên, phí rút tiền mặt, lãi cho vay đối với thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ được thấu chi…., ngoài ra ngân hàng còn các khoản thu chiết khấu từ doanh số thanh toán của các đơn vị chấp nhận thẻ.
Bốn là góp phần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và hiện đại hóa ngân hàng. Sự ra đời của thẻ đã làm phong phú thêm các dịch vụ ngân hàng, mang đến cho ngân hàng một phương tiện thanh toán đa tiện ích, thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng. Đồng thời đưa thêm một loại hình thanh toán mới phục vụ khách hàng buộc khách hàng phải không ngừng hoàn thiện; nâng cao trình độ, trang bị thêm trang thiết bị công nghệ để cung cấp cho khách hàng những điều kiện tốt nhất trong thanh toán, sử dụng dịch vụ để đảm bảo sự uy tín, an toàn, hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng. Đối với đơn vị chấp nhận thẻ Các đơn vị kinh doanh (hay người bán hàng) khi trở thành đơn vị chấp nhận thẻ cho ngân hàng sẽ có thêm phương thức thanh toán mới hiện đại đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.
Cung ứng dịch vụ có chấp nhận thanh toán thẻ sẽ giúp bán được nhiều hàng hơn, do đó tăng doanh số, giảm chi phí bán hàng, tăng lợi nhuận. Đồng thời chấp nhận thanh toán bằng thẻ góp phần làm cho nơi bán hàng trở nên văn minh, hiện đại, tạo cảm giác thoải mái cho Khách hàng khi đến giao dịch, thu hút được nhiều khách hàng đến với cửa hàng. Các khoản tiền bán hàng được chuyển trực tiếp vào tài khoản ngân hàng do đó an toàn và thuận tiện hơn trong quản lý tài chính kế toán. Đối với nền kinh tế Thanh toán bằng thẻ giúp loại bỏ một khối lượng tiền mặt rất lớn lẽ ra phải lưu chuyển trực tiếp trong lưu thông để thanh toán các khoản mua hàng, trả tiền dịch vụ trong cơ chế thị trường đang ngày càng sôi động, phát triển ở tất cả các nước, loại hình thanh toán này cũng không đòi hỏi nhiều thủ tục giấy tờ.
Do đó sẽ tiết kiệm được một khối lượng đáng kể về chi phí in ấn, chi phí bảo quản, vận chuyển… Với hình thức thanh toán hiện đại, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giúp 10 nhà nước quản lý nền kinh tế cả vi mô và vĩ mô. Thêm vào đó, chấp nhận thanh toán thẻ đã góp phần tạo môi trường thu hút khách du lịch và các nhà đầu tư, cải thiện môi trường văn minh thương mại và văn minh thanh toán, nâng cao hiểu biết của dân cư về các ứng dụng công nghệ tin học trong phục vụ đời sống.