Chương 1 nhằm giới thiệu tổng quan về lý do nghiên cứu, mục đích, đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý luận và khảo cứu các tải liệu có liên quan đối với vấn đề khả năng trả nợ khách hàng cá nhân. Từ đó, đề tài khẳng định cơ sở lý thuyết về mô hình đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, nguồn đữ liệu và cách thức thu thập và xử lý dự liệu, xây dựng mô hình kinh tế lượng để phân tích dữ liệu.
Chương 4 trình bày kết quả và thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương Š đúc kết những vấn đề đã nghiên cứu, thảo luận trong luận văn, đề ra các gợi ý chính sách để làm nguồn tham khảo cho Vietcombank Cần Thơ. LY THUYET VA NGHIEN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân 2.
Tín dụng cá nhân Tín dụng được hiểu là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và cho vay theo nguyên tắc có hoàn trả. Từ đó, chúng ta có thể hiểu rằng “tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyên giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán” (Nguyễn Minh Tiến, 2012). Nói cách khác, tín dụng ngân hàng được hiểu là việc chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng với một khoản chỉ phí nhất định và trong một khoảng thời gian cụ thể. Như vậy, trong phạm vi luận văn này, phạm tru tin dung dugc hiéu là tín dụng ngân hàng, hoạt động tín dụng được hiểu là hoạt động tín dụng ngân hàng.
Trên cơ sở khái niệm chung về tín dụng, thì “tín dụng cá nhân là hình thức tín dụng mà theo đó, ngân hàng chuyên quyền sử dụng vốn cho cá nhân, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh cá thể trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định nhằm mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ gia đình kinh doanh cá thé”. Nhu vay, tín dụng cá nhân là hoạt động tín dụng của ngân hàng với khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình có đại diện là cá nhân (có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cá thể). Ngoài ra, tín dụng có thể được thê hiện dưới các hình thức khác nhau như tín dụng bằng tiền (cho vay), tín dụng bằng tài sản (cho thuê tài chính) hoặc tín dụng bằng chữ tín (cho thuê tài chính). Tuy nhiên trong các hình thức trên thì hình thức cho cho vay là hình thức phổ biến nhất và cũng là quan trọng nhất trong hoạt động của các NHTM.
Vì vậy, trên thực tế thuật ngữ tín dụng và cho vay có thể sử dụng thay thế cho nhau. Do vậy, tín dụng cá nhân và cho vay cá nhân cũng có thể sử dụng thay thế cho nhau. Trong luận văn này, tác giả chỉ giới hạn phân tích tín dụng cá nhân là cho vay cá nhân. Khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân Khả năng trả nợ của khách hàng là việc khách hàng có khả năng trả nợ đầy đủ và đúng hạn với bên cho vay hay không.
Hiện tại vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về khái niệm “khả năng trả nợ” mà chỉ có những dấu hiệu về việc khách hàng “không có khả năng trả nợ”, thông qua phương pháp loại trừ ta có thể hiểu ngoài những khách hàng “không có khả năng trả nợ” là những khách hàng “có khả năng trả nợ”. Theo Hiệp ước Basel II (được trích dẫn từ Nguyễn Đăng Dờn, 2016) có 2 tình trạng sau có thể dùng làm căn cứ đề đánh giá khả năng không trả được nợ của khách hàng, đó là: Thứ nhất, khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn mà chưa tính đến việc ngân hàng bán tài sản (nếu có) để hoàn trả. Thứ hai, khách hàng có các khoản nợ xâu có thời gian quá hạn trên 90 ngày. Trong đó, những khoản thấu chỉ được xem là quá hạn khi khách hàng vượt hạn mức hoặc được thông báo một hạn mức nhỏ hơn dư nợ hiện tại.
Căn cứ theo định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế (IME) thì: “Nợ xấu là khoản nợ khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập góc, tái cấp vốn hoặc đồng ý chậm theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có ly do chắc chắn đề nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ” (trích trong Nguyễn Đăng Dờn, 2016). Từ định nghĩa của IMF và các dấu hiệu mô tả của Hiệp ước Basel II có thể nhận định rằng việc khách hàng phát sinh nợ xấu đồng nghĩa với việc họ không có khả năng trả nợ. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (Thông tư 02/2013/TT-NHNN) xếp loại các khoản nợ tín dụng thành 5 nhóm: Nhóm I: nhóm có khả năng trả nợ đúng hạn. Nhóm 2: Nợ cần chú ý.
Đây là các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dau hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Như vậy nếu khách hàng phát sinh nợ nhóm 2 vẫn được hiểu là khách hàng vẫn còn khả năng trả nợ, dù khả năng trả nợ bị suy yếu trước mắt. Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) được hiểu là các khoản nợ được TCTD, chỉ nhánh ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tốn thất.
Cụ thể, nhóm nợ này có các đặc điểm sau: (0) Nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày; (ii) No gia han lần đầu; (1i) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không có khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ đang thu hồi theo kết luận của thanh tra. Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng đánh giá là có khả năng tôn thất cao. Cụ thể, nợ nhóm 4 có các trường hợp sau: (i) No qua han từ 181 đến 360 ngày; (1) Nợ được cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cầu lại lần đầu; (m) Nợ được cơ cấu lại thời gian trả nợ lần thứ hai; (iv) Nợ phải thu hồi theo quyết định thanh tra nhưng đã quá hạn 30 ngày. Nhóm S5 (nợ có khả năng mat von) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD, chỉ nhánh ngân hàng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, nguy cơ mất vốn cao.
Cụ thể, nó bao gồm một số trường hợp như sau: (0) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (1) Nợ được cơ cấu lại lần đầu nhưng đã quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời gian được cơ cấu lại lần đầu; (ii) Nợ được cơ cấu lại lần thứ hai nhưng đã quá hạn theo thời gian được cơ cấu lại lần hai; (iv) Nợ được cơ cấu lại lần thứ ba; (v) Nợ phải thu hồi theo quyết định thanh tra nhưng đã quá hạn 60 ngày. Trong phạm vi luận văn này, “khả năng trả nợ” của khách hàng sẽ được đánh giá thông qua nhóm nợ xếp hai loại cao nhất tại các TCTD có khách hàng quan hệ tín dụng. Những khách hàng hiện đang có nợ nhóm 3, 4, 5 được hiểu là nhóm khách hàng không có khả năng trả nợ, những trường hợp còn lại được hiểu là khách hàng có khả năng trả nợ. Lựa chọn này dựa trên quy định của Thông tư 02/2013/TT-NHNN.
Tại Khoản 8, Điều 3 của Thông tư nêu rõ: “nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”. Cũng theo quy định này, tỷ lệ nợ xâu và tỷ lệ cấp tín dụng xấu cũng cho thấy rõ cơ cấu tín dụng giữa tổng nợ của khách hàng nhóm 3, 4 và 5 này trên tông nợ của các nhóm từ 1 đến 5. Khi khách hàng được phân loại thành từng nhóm nợ (từng nhóm rủi ro), ngân hàng sẽ phải trích lập mức dự phòng tương ứng từ nhóm I tới nhóm 5 1a 0%, 5%, 20%, 50%, 100% (Quyết dinh 493/2005/QD-NHNN và Thông tư số 14/2014/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc Sửa đôi, bỗ sung một số điều của quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005). Trong các nghiên cứu thực nghiệm về rủi ro tín dụng cá nhân, có hai khía cạnh về vấn đề này thường được các nhà nghiên cứu quan tâm là rủi ro không trả được số nợ vay và rủi ro không trả nợ đúng hạn.
Điều này có nghĩa là rủi ro được xem xét trên hai khía cạnh là quy mô trả nợ và thời gian đáo hạn của khoản nợ. Mô hình đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân 2. Mô hình 5C về đánh giá khả năng trả nợ Mô hình 5C nghiên cứu 5 nhóm tiêu chí của người đi vay. Tác gia Nguyễn Thanh Hải (2014), khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân được xem xét qua 5 nhóm tiêu chí là tư cách người vay (character), năng lực pháp 10 ly (capacity), thu nhập của người vay (cash), tài sản đảm bảo (collaterall) và các điều kiện (conditions).
Tư cách người vay là một trong những nhân tố đầu tiên CBTD phải đánh giá trước khi quyết định tài trợ khách hàng chính là tư cách của người vay. Liên quan đến tư cách người vay, bên cho vay phải hiểu rõ tư cách đạo đức, thiện chí, mục đích vay vốn, uy tín của khách hàng, đánh giá khách hàng vay có phù hợp với quy định, CSTD của ngân hàng không. Trong những tiêu chí nói trên, cần quan tâm đặc biệt đến tư cách đạo đức và thiện chí của khách hàng vay để làm căn cứ đánh giá mức độ hợp tác của khách hàng sau khi cho vay. Về mục đích vay vốn, CBTD cần phân tích, thâm định cần thận nhu cầu của khách hàng tránh trường hợp tài trợ những phương án không khả thi, trường hợp vay ké, vay hộ làm thất thoát nguồn vốn vay của ngân hàng.
Năng lực pháp lý là tiêu chí tiếp theo để đánh giá khả năng trả nợ.