Đặt vấn đề nghiên cứu, xác định mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể để xây dựng các câu hỏi nghiên cứu tương ứng, khoanh vùng đối tượng và phạm vi nghiên cứu, làm rõ phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Trình bày các khái niệm và mô hình nghiên cứu liên quan thông qua việc khảo lược các nghiên cứu trong và ngoài nước về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng TTDĐ. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình nghiên cứu và xác định rõ các phương pháp cụ thể sử dụng trong nghiên cứu, đồng thời ứng dụng các phương pháp này để xử lý, phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Thống kê, kiểm định, phân tích các nhân tố, hồi quy mô hình và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu nhằm xác định mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng TTDĐ của khách hàng khu vực ĐBSCL.
Thảo luận một số vấn đề có liên quan được đúc kết từ kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 7 Dựa trên thảo luận kết quả nghiên cứu, đưa ra kết luận và hàm ý chính sách phù hợp cho các nhà cung cấp dịch vụ, ngân hàng, tổ chức tài chính hoạch định chiến lược quảng bá và phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng, mở rộng mạng lưới TTDĐ. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU Hình 1. Quy trình nghiên cứu Nguồn: Tác giả đề xuất 8 Đầu tiên, nhóm tác giả tiến hành khảo lược lý thuyết về TTDĐ, các lý thuyết về hành vi khách hàng, sự chấp nhận công nghệ, và khảo lược nghiên cứu trong và ngoài nước.
Tiếp theo là xây dựng mô hình nghiên cứu bằng việc kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó, xác định các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận sử dụng TTDĐ và thiết kế thang đo phù hợp. Khi có được bảng khảo sát hoàn chỉnh, tác giả tiến hành lấy mẫu khảo sát với nguồn khảo sát là người dân không phân biệt giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, nghề nghiệp,.sinh sống và làm việc tại các tỉnh thành thuộc khu vực ĐBSCL. Tác giả thực hiện thử nghiệm khảo sát với 20 người dùng để điều chỉnh bảng hỏi, loại bỏ những câu tối nghĩa để phân loại các câu hỏi một cách phù hợp, rõ ràng. Sau khi điều chỉnh, nhóm tác giả thực hiện lấy mẫu khảo sát đối với người dùng ĐBSCL, đảm bảo tính đồng đều cho nghiên cứu.
Sau khi thu thập đủ số liệu, tác giả tiến hành kiểm tra độ tin cậy của từng mẫu khảo sát, sàn lọc và phân loại các mẫu đủ yêu cầu để tiến hành hồi quy. Từ kết quả hồi quy và kiểm định, tác giả kết luận được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ TTDĐ của khách hàng tại khu vực ĐBSCL. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. LÝ THUYẾT VỀ QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG THANH TOÁN DI ĐỘNG 2.
Khái niệm thanh toán di động Theo EPC (2017) định nghĩa thiết bị di động (TBDĐ) là thiết bị cá nhân có khả năng kết nối di động như kết nối mạng viễn thông, Wifi, Bluetooth,…Một số TBDĐ chẳng hạn như điện thoại di động (ĐTDĐ), điện thoại thông minh, máy tính bảng. Thiết bị di động cho phép người dùng kết nối với máy chủ, ủy quyền và xác thực, thực hiện TTDĐ và xác nhận hoàn thành giao dịch. Theo Jong-Hyuok Jung và cộng sự (2020), TTDĐ là một dịch vụ cung cấp cho người dùng khả năng kích hoạt, ủy quyền và hoàn tất các giao dịch mà ở đó tiền được chuyển thông qua mạng di động hoặc công nghệ kết nối không dây bằng việc sử dụng TBDĐ. Thanh toán di động là một phương thức giao dịch mà ở đó quá trình thanh toán được hoàn tất thông qua việc sử dụng các loại TBDĐ và công nghệ truyền thông không dây như mạng viễn thông, internet (Nguyễn Ngọc Dung và cộng sự, 2021).
Wenti Ayu và các cộng sự (2021) định nghĩa TTDĐ hay M-payment là một quá trình mà trong đó có ít nhất một giai đoạn của giao dịch được thực hiện bằng TBDĐ (như ĐTDĐ, điện thoại thông minh, PDA, hoặc bất cứ thiết bị không dây nào khác) và xử lý các giao dịch tài chính một cách an toàn qua mạng di động hoặc mạng không dây (Bluetooth, RFID, NFC,…). Như vậy, định nghĩa TTDĐ có thể được tóm tắt như sau: “Thanh toán di động là một phương thức giao dịch thanh toán được thực hiện trên thiết bị di động (điện thoại di động, điện thoại thông minh, iPad,…) thông qua mạng viễn thông di động, internet hoặc công nghệ không tiếp xúc (như Bluetooth, NFC…)”. Dịch vụ TTDĐ bao gồm tất cả các công nghệ được mang đến cho người dùng cũng như tất cả các tác vụ được cung cấp bởi những nhà cung cấp dịch vụ để thực 10 hiện các giao dịch như mua vé máy bay, vé xe buýt, tàu hỏa, xe điện hay taxi, vé xem ca nhạc, trả phí đỗ xe, và thanh toán cho các hóa đơn (Kim và các cộng sự, 2010). Phân loại thanh toán di động Theo EPC (2012) một cách tổng quát thì TTDĐ được chia làm hai loại chính dựa theo công nghệ hỗ trợ, đó là: thanh toán tầm gần (proximity payment) và thanh toán tầm xa (remote payment).
Đối với thanh toán tầm gần, khách hàng và người bán (và thiết bị của họ) ở cùng một địa điểm và liên lạc trực tiếp với nhau thông qua TBDĐ và công nghệ vô tuyến không tiếp xúc như NCF1, Bluetooth,…để truyền tải dữ liệu. Đối với thanh toán tầm xa, giao dịch được thực hiện thông qua mạng viễn thông như GMS hoặc internet và không phụ thuộc vào vị trí của người mua và thiết bị của người đó. Dựa vào đặc tính của người trả tiền và người được trả tiền hay nói cách khác là đặc điểm của khách hàng và doanh nghiệp, TTDĐ được phân loại bao gồm: thanh toán C2C (Customer-to-Customer) hoặc P2P (Peer-to-Peer), thanh toán C2B (Customer-to-Business), thanh toán B2C (Business-to-Customer), và thanh toán B2B (Business-to-Business). Đề tài này tập trung nghiên cứu thanh toán B2C, nghĩa là tập trung vào mối quan hệ thương mại giữa nhà bán lẻ và người dùng, người quyết định mua hàng (sử dụng dịch vụ) chính là khách hàng cá nhân.
Khái niệm quyết định sử dụng Quyết định sử dụng là một sự lựa chọn cuối cùng sau khi so sánh với nhiều sự lựa chọn khác, mà với lựa chọn đó sẽ giúp con người đạt được mục đích hiện tại hay thỏa mãn được ý định của họ khi sử dụng một thực thể. Quá trình đưa ra quyết định phụ thuộc vào sở thích, thói quen, niềm tin và kỳ vọng đối với một đối tượng, để có thái độ đúng đắn và cân nhắc sử dụng (Byrnes, 2011). Để giao dịch bằng NFC, người dùng phải chạm và đưa thiết bị có cài đặt NFC gần với thiết bị đầu cuối thanh toán của người bán. 11 Quyết định sử dụng công nghệ (hay sử dụng thực tế/hành vi mua thực tế) dùng để chỉ mức độ thường xuyên sử dụng hệ thống của một người (Davis, 1989).
Như vậy, theo Davis thì khi đề cập đến quyết định sử dụng nghĩa là nói đến khối lượng và tần suất sử dụng hệ thống của người dùng. Theo đó, đối với nghiên cứu này thì quyết định sử dụng dịch vụ TTDĐ là hành vi sử dụng dịch vụ được kiểm soát bởi ý chí, cảm xúc cá nhân, để đạt được kỳ vọng qua một hay nhiều lần sử dụng. CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG 2. Thuyết hành động hợp lý (The Theory of Reasoned Action – TRA) Thuyết hành động hợp lý được Fishbein lần đầu tiên phát triển năm 1967, sau đó tám năm, lý thuyết này được mở rộng bởi Ajzen và Fishbein.
Theo lý thuyết này, trong quá trình đưa ra quyết định các cá nhân sẽ đưa ra sự lựa chọn hợp lý giữa các giải pháp một cách có cơ sở và động lực bản thân. Mô hình TRA cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố tốt nhất để dự đoán hành vi tiêu dùng. Theo Ajzen và Fishbein (1975), ý định hình vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố đó là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng. Mô hình hành động hợp lý – TRA Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975 Trong đó: 12 Thái độ được hiểu là cảm nhận tích cực hoặc tiêu cực đối với thực hiện một hành vi nào đó.
Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm, dịch vụ. Chuẩn chủ quan có thể được đo lường bằng sự tác động của các mối quan hệ xã hội, những cá nhân, tổ chức có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…). Dưới tác động của nhóm người có liên quan, khách hàng sẽ có xu hướng tiêu dùng dựa theo những sự ủng hộ hay phản đối của họ và từ đó hình thành nên động cơ của người tiêu dùng. Tuy nhiên, thuyết hành động hợp lý lại gặp một vấn đề đó là mô hình cho rằng hành vi con người hoàn toàn do lý trí và không thể kiểm soát được, yếu tố thái độ và chuẩn chủ quan chưa đủ thuyết phục để giải thích hành vi của người tiêu dùng.
Thuyết hành động có kế hoạch (The Theory of Planned Behavior – TPB) Nhận thấy hạn chế của mô hình TRA, Ajzen (1991) đã phát triển mô hình bằng cách thêm biến “Nhận thức kiểm soát hành vi” nhằm gia tăng độ mạnh trong dự báo. Lý thuyết này được xem là thuyết phục nhất để tiên đoán hành vi người dùng, mô hình cho thấy mối quan hệ giữa thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi, đồng thời tác giả cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa ba yếu tố trên với ý định và quyết định sử dụng của người tiêu dùng. Ajzen (1991) cho rằng ý định hành vi của một cá nhân sẽ bị ảnh hưởng bởi thái độ phản ánh cảm nhận tích cực hay tiêu cực đối với hành vi, chuẩn chủ quan đại diện cho nhận thức con người dưới sự tác động của các mối quan hệ xã hội, và cuối cùng là nhận thức kiểm soát hành vi đại diện cho nhận thức về sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện một hành vi. Nhận thức được sự khó khăn hay dễ dàng khi thực hiện một hành vi phụ thuộc vào nguồn lực sẵn có và cơ hội để thực hiện hành vi, nếu được như vậy thì ở mỗi cá nhân sẽ hình thành một ý định mạnh mẽ để thực hiện hành vi.