CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CO SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE Ý ĐỊNH THAM GIA BẢO HIẾM Y TE TỰ NGUYỆN. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về tác động của BHYT đến sức khỏe Chăm sóc sức khỏe được coi là quyền cơ bản và nhu cầu thiết yếu của người dân ở bat kỳ quốc gia nào (Robert E. Trong những năm gần đây, nhiều chính phủ trên toàn thế giới đã tập trung phát triển các chương trình BHYT nhằm hướng tới cải thiện sức khỏe cho người dân.
BHYT được cho là góp phần nâng cao sức khỏe bằng cách cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế (Helen Levy và David Meltzer, 2001). Bàn về tác động của BHYT đến sức khỏe, một số nghiên cứu đã sử dụng các mô hình rủi ro theo tỷ lệ dé ước tinh tác động của BHYT đối với tỷ lệ tử vong sau khi điều chỉnh độ tuổi, giới tinh, thu nhập và bệnh đi kèm. Cu thé, bang việc su dung dữ liệu từ Khao sát Sức khỏe va Dinh dưỡng Quốc gia, nhóm tác giả nhóm tác giải Franks và cộng sự (1993) nhận thấy rang từ năm 1975 đến 1987, tỷ lệ tử vong của những người lao động làm việc không có bảo hiểm cao hơn khoảng 25% so với những người có bảo hiểm. Sorelie và cộng sự (1994) cũng đã tìm thấy những tác động tương tự khi sử dụng dữ liệu từ Nghiên cứu Tử vong theo chiều đọc Quốc gia (NLMS).
Bên cạnh đó, với việc sử dụng dữ liệu theo chiều dọc từ Nghiên cứu Sức khỏe và Hưu trí về tình trạng kết hôn trước đây của vợ/chồng, tình trạng nhập cư, số năm ở Hoa Kỳ và tình trạng mắt việc làm không tự nguyện trong 5 năm làm công cụ đánh giá tác động của BHYT đối với sức khỏe; bài nghiên cứu “Health insurance and health at age 65: implications for medical care spending on new Medicare beneficiaries” của tác giả Hadley va Waidmann (2006) cũng kết luận rằng BHYT có thé làm tăng ty lệ sống sót và tăng tình trạng sức khỏe. Trai với những lập luận trên, trong nghiên cứu “The impact of nearly universal insurance coverage on health care utilization and health: evidence from Medicare”, tác giả Card và cộng sự (2004) sử dung phương pháp gián đoạn hồi quy dé ước tính tac động của bảo hiểm Medicare (chương trình BHYT quốc gia dành cho người từ 6Š tuổi trở lên ở Hoa Kỳ) đối với tỷ lệ tử vong. Theo kết quả phân tích, nhóm tác giả không tìm thấy bang chứng nào cho sự thay đổi riêng biệt về tỷ lệ tử vong ở tuổi 65, cũng như không thấy bat ky sự thay đổi nào về tốc độ tăng ty lệ tử vong sau 65 tuổi. Tuy nhiên, nghiên cứu mắc phải hạn chế về độ chính xác của mẫu do những người lớn tuổi trong mẫu sau năm 1965 chỉ được hưởng bảo hiểm Medicare trong | vài năm.
Trong khi đó, Polsky và cộng sự (2006) thực hiện một cách tiếp cận khác dé ước tính tác động của Medicare đối với sức khỏe. Nhóm tác giả phân tích những thay đổi trong quỹ đạo sức khỏe tự báo cáo ở tuéi 65 và nhận thấy rang Medicare giúp ích cho những người 65 tuổi tương đối khỏe mạnh, nhưng lại giúp ích rất it cho những người đã ở trong tình trạng sức khỏe suy giảm khi họ đến tuổi 65. Sự cải thiện sức khỏe giữa những người không có bảo hiểm và có bảo hiểm không khác biệt về mặt thống kê. Nghiên cứu của Kaestner và cộng sự (1999) cũng chỉ ra rằng bảo hiểm chỉ có tác động nhỏ đối với tỷ lệ tử vong ở người lớn hoặc trẻ sơ sinh Đáng chú ý là tác giả Goldman và cộng sự (2001) đã tìm thấy một điểm bất thường khi nghiên cứu tác động của bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cho người có thu nhập thấp ở Hoa Kỳ (Medicaid) đối với tỷ lệ tử vong liên quan đến AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mạn tính do virus HIV gây ra).
Theo đó, việc tham gia Medicaid dường như dẫn đến tỷ lệ tử vong cao hơn. Tuy nhiên, sau khi điều chỉnh tính nội sinh trong mô hình probit-IV, nhóm phát hiện ra rằng dấu hiệu của hiệu ứng Medicaid bị đảo ngược, với việc tham gia Medicaid thậm chí còn có tác động lớn hơn đến việc giảm tỷ lệ tử vong so với bảo hiém tư nhân trong các nghiên cứu trước đó. Cũng bàn về tác động của BHYT nhưng ở 1 khía cạnh khác, nghiên cứu “Impact of health insurance on health care utilisation and out-of-pocket health expenditure in Vietnam” của nhóm tac giả Nguyễn Thị Thu Thương va cộng sự (2020) đã sử dung mô hình khác biệt kép dé ước tinh tác động. Kết quả thu được cho thay, BHYT làm tăng kha năng KCB ngoại trú, số lần khám ngoại trú trung bình, tổng số lần khám và số lần khám trung bình tại các cơ sở y tế tuyến huyện.
BHYT cũng giúp giảm chi phí y tế cho cả bệnh nhân ngoại trú và nội trú. Kết quả này khá tương đồng với các phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Việt Cường (2012), tác giả chỉ ra rằng BHYT TN ở Việt Nam giúp người có bảo hiểm tăng tỷ lệ KCB ngoại trú khoảng 43%/năm và KCB nội trú 63%/năm. Ngoài ra nghiên cứu của Wagstaff (2007) cũng cho thấy, BHYT cho người nghèo ở Việt Nam làm tăng 16% khả năng KCB ngoại trú và 30% KCB nội trú. Ở Đài Loan, Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2007) cũng chỉ ra rằng chương trình BHYT quốc dân (NHI) đã giúp người cao tuổi gia tăng 14,18% sử dụng dịch vụ ngoại trú và 9,05% dịch vụ nội trú.
Như vậy có thé thấy do nhận được sự hỗ trợ về chi phí y tế khi tham gia BHYT mà người dân có nhiều cơ hội được KCB hơn, điều này giúp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho người dân một cách kip thời và hiệu quả. Các nghiên cứu về nhân té tác động đến ý định tham gia BHYT, BHYT TN Tham gia BHYT là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân, đồng thời là trách nhiệm của Nhà nước với toàn xã hội nham hướng tới sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân. Lợi ích của BHYT là rất lớn, tuy nhiên nhóm đối tượng tham gia BHYT TN vẫn còn chưa phát triển ở nhiều quốc gia. Dé tìm ra các giải pháp nâng cao độ bao phủ BHYT, các tác giả đã hướng đến nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT và đặc biệt là BHYT TN.
Tác giả Ban Hatem Jassam (2019) trong nghiên cứu “Factors Affecting Intention to Participate in Health Insurance” đã chỉ ra ba bién bao gom thái độ, chuẩn mực chủ 10 quan và nhận thức kiểm soát hành vi có tác động tích cực và đáng kể đến ý định mua BHYT của người dân. Tuy nhiên, mô hình nghiên cứu áp dụng chỉ bao gồm 3 biến, số lượng này là chưa đủ, có thể có nhiều biến số khác ảnh hưởng đến ý định mua BHYT. Điền hình như trong nghiên cứu “Demand for Health Insurance in Ghana: What Factors Influence Enrollment?”, nhóm tác gia Ebenezer Owusu-Sekyere va Anthony Chiaraah (2014) chi ra rằng, giới tinh, tình trạng hôn nhân va chi phí chăm sóc chữa bệnh cũng là những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định tham gia BHYT của một cá nhân. Trái lại với kết quả của 2 nghiên cứu trên, theo tác giả Nguyễn Thanh Lâm (2018), có 3 nhân tố bao gồm chuan chủ quan, thái độ hành vi và nhu cầu chăm sóc sức khỏe có ảnh hưởng tích cực nhưng nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi lại không ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT TN của người dân.
Kết quả kiểm định cũng cho thấy những đặc điểm của người dân như: giới tính, tình trạng hôn nhân, thu nhập, nghề nghiệp và độ tuôi cũng không ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT TN. Thêm vào đó, Devaraj Acharya và cộng sự (2018) phát hiện thêm rằng kiến thức về BHYT, tình trạng học vấn, quy mô gia đình, phương tiện truyền thông cũng có ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT. Đáng chú ý là trong nghiên cứu này, các hộ gia đình giau có dường như ít có khả năng tham gia BHYT hơn. Xét các nhân tổ về xã hội, bài viết “Xác định nhu cầu Bảo hiểm y tế tự nguyện của nông dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” của nhóm tác giả Nguyễn Văn Song và Lê Trung Trực (2010) chỉ ra rằng: độ tuổi, thu nhập, nhóm đặc trưng về nhân khâu xã hội của từng cá nhân là những yếu tô có ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT TN.
Trái lại, kết quả kiểm định của tác giả Nguyễn Thanh Lâm (2018) lại cho thấy những yếu tố kể trên không ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT TN của người dân. Ở 1 khía cạnh khác, tác giả Victor Capoccia và cộng sự (2013) với nghiên cứu “Sustaining Enrollment in Health Insurance for Vulnerable Populations: Lessons From Massachusetts” đã chỉ ra các yêu tổ tác động và xác định các phương pháp dé giảm thiêu 11 việc hủy đăng ký và duy trì độ bao phủ BHYT. Nghiên cứu tập trung vào 2 chương trình chăm sóc sức khỏe được trợ cấp công khai của Massachusetts là MassHealth và Commonwealth Care. Nhóm tác giả đã tổ chức tong cộng 4 nhóm tập trung: I nhóm với 14 Giám đốc điều hành của các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần và cai nghiện và 3 nhóm với 33 bệnh nhân của hai cơ quan khác nhau ở ba bối cảnh khác nhau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 11 trong số 33 bệnh nhân tham gia phỏng vấn hiện không có BHYT, một nửa số bệnh nhân (N =17) cho biết họ không có bảo hiểm trong năm qua và chỉ | trong số 33 bệnh nhân chưa bao giờ đăng ký vào một trong các chương trình công cộng được trợ cấp. Hầu hết những người đã bị hủy đăng ký cho biết, họ không biết rằng họ đã trở thành người không có bảo hiểm cho đến khi họ tìm kiếm dịch vụ. Những ly do bao gồm việc không mở thông báo được gửi qua thư, không thé hiểu nội dung thông báo và không bao giờ nhìn thấy hoặc nhận được thông báo. Một vài trường hợp, bệnh nhân cho rằng hệ thống đăng ký, trả lời câu hỏi và đăng ký lại là phức tạp và khó hiểu.
Vì vậy, tác giả nhận định rằng những thay đổi trong cơ sở hạ tầng hệ thống thông tin và các thủ tục tiếp cận, đăng ký, hủy đăng ký và đăng ký lại có thé cải thiện tính liên tục và duy trì BHYT. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng tồn tại 1 số hạn chế.