Chương I — Giới thiệu: sẽ giới thiệu về ly do hình thành dé tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của dé tài. - Chương II — Cơ sở lý thuyết: sẽ đề cập đến các khái niện cơ bản, các lý thuyết nền phục vụ cho nghiên cứu. các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài được nghiên cứu đồng thời nêu rõ mô hình nghiên cứu và các giả thuyết liên quan. - _ Chương III — Phương pháp nghiên cứu: sẽ giới thiệu về việc xây dựng thang do, cách chọn mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, các kỹ thuật phân tích dữ liệu thống kê được sử dụng trong đề tải.
- _ Chương IV — Kết quả nghiên cứu: sẽ phân tích, diễn giải các dữ liệu đã thu được từ cuộc khảo sát. - Chương V— Kết luận: đưa ra một số kế luận về kết quả thu được về ý định tham gia BHYT tự nguyện của người nông dân trong chính sách ưu việt này, đưa ra một sô hạn chê kiên nghị đôi với các nghiên cứu trong tương lai. 5 CHUONG II - CƠ SỞ LÝ THUYET VA TONG QUAN LÝ LUẬN Chương 2 mục đích của chương này dựa vào các khái niệm, lý thuyết, dé từ đó hình thành mô hình nghiên cứu. Các giả thiết được thực hiện dựa trên các khái niện nghiên cứu trước.
Nội dung chương này bao gồm các khái niệm nghiên cứu, cơ sở lý thuyết có liên quan: lý do dựa vào các mô hình nghiên cứu, điểm tương đồng của dé tài với các nghiên cứu trong lĩnh vực khác 2. Khải niệm bảo hiểm y té Theo từ điển bách khoa Việt nam (1995), “là loại bảo hiểm do nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân. tập thé và cộng đồng xã hội dé chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”. Cũng như hau hau hết các quốc gia trên thế giới, Việt nam thừa nhận quan điểm của tổ chức Y tế thế giới (WHO) và tô chức Lao động quốc tế (ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chỉ phí y tế cho người tham gia khi gap rủi ro, ốm đau, bệnh tật.
Khái nhiệm dịch vụ Theo từ điển tiếng việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tô chức và được trả công (Từ điển tiếng việt, 2004, NXB Đà Nẵng. Theo Mathe và Shapirro (1993): “Dịch vụ là những hoạt động mang tính liên tục nhằm cung cấp những giá trị cho khách hàng trong thời gian dài và được đánh giá bang cách gia tăng mức độ hai lòng của khách hàng đối với những sản phẩm hay những chuỗi sản phẩm”. Ngoài ra còn có rất nhiều định nghĩa về dịch vụ khác nữa. Tuy nhiên, định nghĩa về dịch vụ của Phillip Kotler (2003) là định nghĩa khá tong quát và hoàn chỉnh: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thé cung cap cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyén sở hữu một cái gi đó.
Sản phẩm của nó có thé hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. Ý định mua Y định được cho là chứa đựng những yếu tổ thúc day, ảnh hưởng đến hành vi, nó chỉ ra mức độ mà một người sẵn sàng thử, mức độ nỗ lực thực hện để hoàn thành hành vi. Khi con người có ý định mạnh mẽ dé tham gia vào một hành vi nào đó thì họ có khả năng thực hiện hành vi đó nhiều hơn (Ajzen 1991, trang 181). 6 Y định mua là “những gì chúng ta nghĩ chúng ta sẽ mua” (Park, trích trong Samm va cộng sự, 2012, trang 206).
Còn có thé được định nghĩa là quyết định hành động cho thay được hành vi của cá nhân tùy theo sản phẩm (Wang va Yang, trích trong Samin và cộng sự, 2012, trang 206). Đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT tự nguyện của người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt nên tác giả đã tìm hiểu mô hình về hành vi của người tiêu dùng như sau: 2. Hành vi người tiêu dùng Lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng: Hành vi người tiêu dùng được hiểu như hành vi mà những người tiêu dùng tiến hành trong việc tìm kiếm, đánh giá, mua và sử dụng sản phẩm mà họ kỳ vọng răng chúng sẽ thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của ho; là quá trình có liên quan đến việc cá nhân lựa chọn mua hàng, sử dụng hoặc từ bỏ sản phẩm, hoặc sự trải nghiệm để đáp ứng nhu cầu và mong muốn bản thân (Solomon, 2006). Theo Solomon, hành vi mua của người tiêu dùng là hành vi xảy ra khi một người tiêu dùng quyết định mua một sản phẩm.
Nó là một quá trình suy nghĩ nội bộ và nó bắt đầu khi người tiêu dùng công nhận một nhu cầu hoặc mong muốn mua một cái gì đó. Việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng sẽ tìm hiểu xem cá nhân ra quyết định như thé nào dé sử dụng những nguồn lực ma họ có. Ly do dựa vào các mô hình nghiên cứu thực phẩm hữu cơ và thực phẩm an toàn. “Hệ thống BHYT ở các nước có nhiều điểm khác nhau, nhưng nói chung, nó đều nhằm mục đích là đảm bảo cho người dân trong mọi hoàn cảnh đều có thể có những phương tiện can thiết trong lĩnh vực chăm sóc y tế dé có thé tổn tại trong những điều kiện chấp nhận được”: nguon: Uy ban thuong vu quốc hội, trong tài liệu bảo hiểm Y tế: kinh nghiệm một số nước, ngày 25/1/2014.
Vì tầm quan trọng đó nên hầu hết các nước đã thực hiện chế độ BHYT bắt buộc như: Nhật bản là quốc gia có hệ thống pháp luật về BHYT từ rất sớm từ năm 1922 là quốc gia châu Á đầu tiên và thực hiện BHYT toàn dân năm 1961. Sau đó là Hàn Quốc Luật BHYT bắt buộc cho toàn dân được ban hành năm 1977. Pháp, chế độ BHYT ở Pháp có tính chất bắt buộc và độc quyền năm 1998, ngoài tính chất bắt buộc Chính phủ Pháp đã đưa vào sử dụng hệ thống “thẻ khám bệnh” (Giống như thẻ ngân hàng có số an sinh xã hội và chứa các thông tin về người sở hữu thẻ). Thái Lan thực hiện thành công BHYT toàn dan năm 2001.
Ngoài ra 7 còn Ixraen, Singapore.nên các tài liệu nghiên cứu về BHYT ở các nước trên thế giới không có bởi vì Ý thức về BHYT ở các nước rất cao, việc đóng BHYT là bắt buộc và tat cả mọi người đều phải tham gia nên không có bất cứ nghiên cứu nao về ý định tham gia BHYT tự nguyện điều này ngược lại hoàn toàn so với Việt Nam, nên tác giải đã sử dụng lý thuyết và kết quả nghiên cứu liên quan đến Ý định và mô hình về thực phẩm an toàn. Diém tương dong của Ý định tham gia BHYT tự nguyện với Ý định mua thực phẩm an toàn, thực phẩm hữu cơ. Trên thực tế cho thay người tiêu dùng. hay người nông dân cũng như người lao động tự do chưa nhận thức đúng về thực phẩm an toàn (về quyền lợi, lợi ích của thẻ BHYT mang lại) nên cần có những nghiên cứu trong lĩnh vực này để giúp đỡ, hỗ trợ doanh nghiệp (nhà quản lý) thu hút được khách hàng cũng như người tham gia tiếp cận tốt hơn với sản phẩm (việc tham gia) hiện nay.
Ngoài ra tương đồng lớn nhất là về thang đo Ý thức sức khỏe đây là yếu tố quan trọng tác động vào Y định, hành vi mua thực phẩm an toàn (tham gia BHYT tự nguyện). Mô hình dé xuất tác giả sử dụng yếu to “Thái độ” từ Minyang Yang (2014). Từ điểm tương đồng trên về BHYT với thực phẩm hữu cơ nên tác giả sử dụng nhân tổ “Thái độ” trong nghiên cứu của Minyang Yang. Trong nghiên cứu kết quả cho thay răng “Nhìn chung giá trị P của giả thiết (thái độ) nhỏ hơn 0.01 được chấp nhận ở mức ý nghĩa cao”.
Cac mo hình nghiên cứu 2. Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA Thuyết hành động hợp lý (TRA=Theory of Reasoned Action): được Ajzen & Fishbein xây dựng từ năm 1967 va được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian. Mô hình TRA (Ajzen & Fishbein, 1975) rat hiéu qua dé dự báo những hành vi nam trong tam kiểm soát của ý chí con người. Y định hành vi bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ (Attitude) và chuẩn mực chủ quan (Subjective Norm).
Trong đó thái độ là biéu hiện yếu tố cá nhân thé hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực của người tiêu dùng đối với sản phẩm. Còn chuẩn chủ quan thể hiện ảnh hưởng của quan hệ xã hội lên cá nhân người tiêu dùng. Ý định bị tác động bởi thái độ và chuẩn chủ quan. Mức độ của thái độ những người ảnh hưởng đến ý định mua của người tiêu dùng phụ thuộc vảo hai điều: đó là mức độ mãnh liệt ở thái độ phản đối hay ủng hộ của những người có ảnh hưởng 8 đôi với việc mua sản phâm của người tiêu dùng va động cơ cua người tiêu dùng làm theo mong muôn của những người có ảnh hưởng này.
Niềm tin về kết quả NZ hành động Thái độ \ Đánh giá kết quả hành động Y dinh >| Hanh vi hanh vi Niém tin vao quy chuan của người xung quanh Chuân mực chủ quan Động lực dé tuân thu những người xung quanh Mô hình 1: Mô hình lý thuyết hành vi hop ly TRA của Fishbein và Ajzen (1975) 2. Thuyết hành vi dự định TPB Thuyết hành vi dự định (TPB = Theory of Planned Behavior): được Ajzen (1991) mở rộng mô hình TRA dé khắc phục hạn chế trong giải thích những hành vi năm ngoai kiểm soát. Ưu điểm chính của TPB là yếu t6 sự ảnh hưởng của xã hội và kiểm soát hành vi nhận thức. Thuyết TPB được xem như tối ưu hơn đối với TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu.
Thái độ đôi với hành vi Chuân mực chủ quan Kiêm soát hành vi Mô hình 2: Mô hình thuyết hành vi dự định — TPB (Ajzen (1991)) 9 + Thai độ: Thái độ là chi báo cua dự định hành vi và hành vi mua (Ajzen,1991). Thái độ là quan trọng khi người tiêu dùng đòi hỏi hiểu thái độ và động cơ của họ để vượt qua các rào cản mua săm mà họ phải đối mat (Hill & Lynchehaun, 2002, dẫn bởi Smith va Paladino, 2010).