Chương 1. Tính cấp thiết của đề tài 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong năm 2017, hàng loạt vụ án trong ngành ngân hàng được đem ra xét xử và hàng loạt vụ án xuất hiện mới. Những vụ án từ nhỏ trong nội bộ ngân hàng đến những đại án làm rúng động cả đất nước đã dấy lên hồi chuông cảnh báo về chất lượng hoạt động cũng như công tác quản lý của các ngân hàng. Là trung tâm tài chính, trung tâm thanh toán của nền kinh tế, ngân hàng giữ vai trò cực kỳ quan trọng.
Ngày nay, khi công nghệ ngày càng phát triển, nhận thức người dân ngày càng tiến bộ, nhu cầu của người dân đối với các dịch vụ của ngân hàng càng cao. Người dân đặt nhiều niềm tin và kỳ vọng về sự phát triển bền vững của ngân hàng. Từ đó nếu ngân hàng trong nước không đáp ứng được nhu cầu cũng như niềm tin của khách hàng thì họ sẽ chuyển sang sử dụng dịch vụ của ngân hàng nước ngoài hay một tổ chức điện tử nào đó. Và để phát triển bền vững thì cốt lõi vẫn là sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng.
Sự an toàn để người dân cảm nhận được ở đây đơn giản chính là việc người dân đủ tiêu chuẩn cần tiền thì ngân hàng có tiền cho vay, người dân cần rút tiền thì ngân hàng đủ tiền chi trả cho người dân. Những điều đơn giản đó chính là thanh khoản của ngân hàng. Thanh khoản của ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng và đặc biệt là niềm tin của khách hàng. Hoạt động ngân hàng gắn liền với việc huy động tiền từ công chúng để cho vay, chỉ cần ngân hàng gặp một vấn đề nhỏ về thanh khoản nhưng không giải quyết kịp thời sẽ khiến niềm tin của công chúng giảm xuống rất nhiều gây ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của ngân hàng.
Ngay năm nay, 10 năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, chúng ta lại càng cần cẩn trọng xem xét về thanh khoản của ngân hàng. Chúng ta cần đánh giá yếu tố nào ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng để từ đó tạo cơ sở xây dựng hệ thống giải pháp phù hợp nhằm tránh tình trạng một ngân hàng mất thanh khoản ảnh hưởng đến các ngân hàng khác, ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế quốc gia. Tài chính là trái tim của nền kinh tế, và ngân hàng là thành phần quan trọng nhất hình thành nên thị trường tài chính. Do đó, ngân hàng cần thực sự vững mạnh thì nền kinh tế mới có thể phát triển bền vững được.
Từ tính cấp thiết đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định một cách toàn diện và cụ thể các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm đóng góp một phần nào đó giúp hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung phát triển tốt hơn, an toàn hơn.2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của hệ thống NHTM Việt Nam. Đồng thời xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến thanh khoản của các NHTM Việt Nam. Dựa trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị nhằm giúp NHNN và các NHTM xây dựng hệ thống giải pháp quản trị thanh khoản tối ưu.3 Câu hỏi nghiên cứu Để đáp ứng các mục tiêu, bài nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến thanh khoản của các NHTM Việt Nam? Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này như thế nào đến thanh khoản của các NHTM? Từ những kết quả đạt được bài nghiên cứu đưa ra các giải pháp và đề xuất những kiến nghị gì nhằm giúp các NHTM quản trị thanh khoản hiệu quả hơn? 1.4 Đối tượng và phạm vi của nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu từ Báo cáo tài chính của 25 NHTM Cổ phần niêm yết trên sàn HoSE và OTC trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2016. Các dữ liệu được thu thập từ Báo cáo tài chính mà Ngân hàng công bố và Báo cáo của Tổng cục thống kê Việt Nam.5 Tổng quan các nghiên cứu trước Quản trị thanh khoản có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình hoạt động của ngân hàng, do vậy có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố tác động đến thanh khoản của ngân hàng.
Ví dụ như nghiên cứu của Marcella Luccheta vào năm 2007 quan tâm đến mối quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường liên ngân hàng, đã sử dụng dữ liệu bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của 5,066 ngân hàng ở châu Âu từ cơ sở dữ liệu BankScope, các mức lãi suất được lấy từ NHNN châu Âu (ECB) trên cơ sở thống kê số liệu giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2004. Mục đích của tác giả là cung cấp những bằng chứng cho thấy lãi suất bình quân liên ngân hàng có ảnh hưởng đến những rủi ro và khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Hầu như ở tất cả các nước châu Âu, lãi suất liên ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến tính thanh khoản của các ngân hàng đang tồn tại và quyết định cho vay của một ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng. Ở nghiên cứu này, tính thanh khoản bị ảnh hưởng bởi: Hành vi của ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất cơ bản của chính phủ, các khoản vay trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ xấu, quy mô ngân hàng.
Trong đó, khả năng thanh khoản 2 được đo bởi tỷ lệ giữa khoản cho vay trên tổng tài sản (Loans on total assets - LTA). Tiếp đó vào năm 2009 Gianfranco cũng đưa ra kết quả nghiên cứu của mình, ông phân tích các kỹ thuật đo lường RRTK và phương pháp giám sát thanh khoản. Theo đó tác giả đưa ra khung định lượng để đo lường RRTK gồm các phương pháp tiếp cận chứng khoán, phương pháp tiếp cận dựa trên dòng tiền 3 và phương pháp hỗn hợp. Trong phần giám sát thanh khoản, tác giả chỉ ra một vài phương pháp tiếp cận giám sát thanh khoản của một số nước châu Âu như Anh, Đức, Pháp và Italia để minh chứng cho nghiên cứu của mình.
Đặc biệt, năm 2011 Muhammad Farhan Akhtar cùng các cộng sự đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thanh khoản tại NHTM Pakistan bằng cách phân tích so sánh giữa các NHTM thông thường và ngân hàng hồi giáo của Pakistan. Tác giả sử dụng phương pháp OLS để nghiên cứu trong thời gian từ 2006-2009 với phạm vi tại 12 NHTM. Kết quả cho thấy quy mô ngân hàng tương quan dương với tỷ lệ thanh khoản tiền mặt và các khoản tương đương tiền trên tổng tài sản nhưng không đáng kể. Mối quan hệ giữa ROE với biến phụ thuộc là tiêu cực nhưng không đáng kể.
CAR có tương quan tích cực với tỷ số thanh khoản tiền mặt và các khoản tương đương tiền trên tổng tài sản với độ tin cậy 95%. ROA tác động tích cực nhưng không đáng kể với độ tin cậy khoảng 44%. Mở rộng phạm vi đối tượng hơn, vào năm 2011 Bonfim & Kim đã tập trung vào các ngân hàng ở châu Âu và Bắc Mỹ để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nhằm thu thập dữ liệu từ Bankscope giai đoạn từ năm 2002 - 2009, bao gồm cả cuộc khủng hoảng và những năm trước khủng hoảng. Dữ liệu thu thập tập trung vào các ngân hàng Châu Âu và Bắc Mỹ, chỉ chọn các NHTM và tập đoàn ngân hàng có báo cáo tài chính hợp nhất, không bao gồm các ngân hàng mà không có thông tin về tổng tài sản.
Từ đó phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc vốn ngân hàng và rủi ro thanh khoản, được đo bằng tỷ lệ giữa cho vay ròng và tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn, và hiệu quả chi phí được biểu hiện qua ROE. Mục đích nghiên cứu rằng để đảm bảo khả năng quản lý rủi ro thanh khoản tốt nhất bên cạnh việc xác định những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, nghiên cứu này còn nhấn mạnh tầm quan trọng của các tổ chức tài chính trong việc giảm bớt rủi ro thanh khoản. Với ý nghĩa đó, những kết quả nổi bật mà các mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và kích thước, hiệu suất và tỷ lệ giữa vốn vay và tiền gửi phụ thuộc vào loại biện pháp rủi ro thanh khoản sử dụng. Quy mô ngân hàng nói chung có tác động tích cực về thanh khoản ngân hàng.
Cũng trong năm 2011, nghiên cứu của Vodová được đưa ra nhưng tác giả chỉ tập trung vào một quốc gia duy nhất là Séc, chứ không quan tâm đến nhiều quốc gia như Bonfim và Kim. Tác giả thực hiện xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ số tài sản thanh khoản trên tổng tài sản tại các NHTM Cộng hòa Séc trong giai 3 đoạn từ 2001-2009. Phương pháp được sử dụng là phương pháp bình phương bé nhất OLS. Kết quả cho thấy thanh khoản ngân hàng tăng với an toàn vốn cao hơn, lãi suất cho vay cao hơn, tỷ lệ nợ xấu cao hơn và lãi suất cao hơn đối với giao dịch liên ngân hàng.
Ngược lại, khủng hoảng tài chính, tỷ lệ lạm phát cao hơn và tốc độ tăng trưởng cuả GDP có ảnh hưởng tiêu cực đến tính thanh khoản ngân hàng. Mối quan hệ giữa quy mô của ngân hàng và tính thanh khoản của nó khá là nhập nhằng. Năm 2012, cùng với các cộng sự Meile Jasiene đã phân tích RRTK của NHTM cũng như khả năng quản lý RRTK và xây dựng một mô hình quản lý RRTK cho các NHTM. Dựa trên số liệu của ngân hàng Lithuanian, các tác giả đã gợi ý mô hình quản lý RRTK thành 2 phần: kế hoạch thanh khoản theo ngắn hạn và dài hạn.
Theo đó tác giả đã chỉ ra trong khi quản lý thanh khoản ngắn hạn chỉ tập trung vào việc phân tích chỉ số thanh khoản thì quản lý RRTK trong dài hạn lại dựa vào việc dự báo và đáp ứng nhu cầu thanh khoản, và phân tích khe hở thanh khoản. Tập trung hơn về bản chất, yếu tố nội tại của ngân hàng, vào năm 2015 Jean-Loup Soula đã sử dụng mô hình các nhân tố rủi ro, nghiên cứu cho rằng đo lường rủi ro hệ thống thanh khoản ngân hàng dựa trên độ nhạy cảm sự thay đổi trong các điều kiện thanh khoản từ năm 2008-2011, nguồn dữ liệu lấy từ 85 ngân hàng trên hơn 20 quốc gia khu vực châu Âu từ năm 2005-2012.