chương 1 tác giả giới thiệu tổng quan về luận văn và đưa các vấn đề chính như: tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và kết cấu của đề tài nghiên cứu. Ở chương 2, tác giả sẽ đi sâu hơn vào cơ sở lý luận, các khái niệm liên quan đến các vấn đề nghiên cứu của luận văn và từ đó xây dựng và đề xuất mô hình nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm về sự sáng tạo Cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu nhà nghiên cứu đã đưa ra những góc nhìn khác nhau về khái niệm định nghĩa cho sự sáng tạo. Có thể nói các nhà nghiên cứu đều không đồng ý hoàn toàn với một khái niệm nào về sự sáng tạo.
Theo Amabile (1996), sự sáng tạo là việc tạo ra những ý tưởng mới, những ý tưởng đó đòi hỏi phải có sự khác biệt so với những cái đã có, hữu ích, phù hợp với mục tiêu và có giá trị nhất định trong một lĩnh vực nào đó; sự sáng tạo chịu ảnh hưởng của cả hai yếu tố là yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường. Các lĩnh vực được cho là những hoạt động của con người từ các khía cạnh như khoa học, nghệ thuật, kinh doanh cho đến các hoạt động hàng ngày (Teresa M Amabile, 1997). Sự sáng tạo hay trí sáng tạo là một trong những đặc tính mà người ta có vẻ có một sự hiểu biết nội tại về nó, nhưng nếu bạn thực sự hỏi ai đó định nghĩa về sự sáng tạo, nhiều khả năng là họ sẽ bối rối và không thể ngay lập tức đưa ra câu trả lời. Khá dễ dàng để đưa ra danh sách những con người sáng tạo (Frieda Khalo, Steve Jobstạo và Steve Wozniak, Einstein).
Woodman và cộng sự (1993) lại cho rằng sự sáng tạo là việc tạo ra những ý tưởng, sản phẩm, dịch vụ…nội dung mới có giá trị và hữu trong công việc, cuộc sống….Trong khi Woodman & cộng sự nhấn mạnh đến ba tính chất đó là mới, có ích và có giá trị thì Amabile lại nhắc đến hai yếu tố là sự mới mẻ và có ích. Tuy nhiên, việc có ích một cách nào đó cũng có mối liên quan đến giá trị mà sự sáng tạo có thể mang lại. Kreitner và Kinicki (2004) cho rằng sự sáng tạo là quá trình mà con người sử dụng trí tưởng tượng và kỹ năng của mình để phát triển một ý tưởng, sản phẩm, quá 7 trình mới hoặc độc đáo. Như vậy theo khái niệm này có thể thấy sự sáng tạo là việc tạo ra cái mới, kết hợp hay tổng hợp những cái hiện có; cải tiến hoặc thay đổi những cái hiện có.
Theo Oldham và Cummings (1996), một ý tưởng, sản phẩm hay tiến trình sáng tạo phải thỏa mãn hai điều kiện: nó là mới mẻ và độc đáo; nó có liên quan và hữu ích cho một tổ chức nào đó. Hay có thể nói sự sáng tạo được định nghĩa là việc tạo ra một ý tưởng, sản phẩm, dịch vụ hay quá trình có giá trị. Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra cái mới, có giá trị giải quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả. Trong hoạt động sáng tạo thì chủ thể sáng tạo giữ vai trò trung tâm.
Trong chủ thể sáng tạo, yếu tố cốt lõi là năng lực sáng tạo của chủ thể. Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa trên tổ hợp các phẩm chất độc đáo của cá nhân đó. Nhìn chung, năng lực sáng tạo có 3 yếu tố cơ bản là: tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo và ý chí (Dũng, 2013).2 Sự sáng tạo của các nhân viên trong tổ chức Sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức được xem như là một hành động tạo ra một ý tưởng mới trong phạm vi của một tổ chức, một doanh nghiệp. Theo Amabile, sự sáng tạo là việc tạo ra ý tưởng mới và hữu ích, còn sự đổi mới là việc áp dụng thành công ý tưởng đó ở cấp độ tổ chức (Teresa M Amabile et al.
Woodman và cộng sự (1993) cho rằng sự sáng tạo trong tổ chức là việc tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, thủ tục hay quá trình mới, hữu ích và có giá trị bởi các cá nhân làm việc với nhau trong một hệ thống xã hội phức tạp. Các nhà nghiên cứu nhận định rằng hai yếu tố quan trọng để xem một hoạt động là sáng tạo trong tổ chức chính là: Tính mới và sự hữu ích đối với tổ chức (Dewett, 2004). Vì vậy, các thuật ngữ mới lạ, phù hợp và chấp nhận được đã được sử dụng rộng rãi trong các lý thuyết (DiLiello & Houghton, 2006). 8 Shalley và cộng sự (2004) cho rằng sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức là sự phát triển những ý tưởng về sản phẩm, ứng dụng, dịch vụ hay quá trình mà nó: mới mẻ, mang tính độc đáo hơn so với những ý tưởng hiện tại và hữu ích trong hiện tại, hoặc tiềm năng mang lại giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp cho tổ chức, trong ngắn hạn cũng như dài hạn (Teresa M Amabile et al., 1996; Teresa M Amabile, 1997, 1998; Gouthier & Rhein, 2011; Oldham & Cummings, 1996).
Để sáng tạo xảy ra trong các tổ chức, các nhà quản lý cần hỗ trợ và thúc đẩy nó, vì họ là những cá nhân am hiểu nhất về kết quả làm việc của nhân viên nên sáng tạo và họ có ảnh hưởng đáng kể đến bối cảnh mà sự sáng tạo có thể xảy ra (Shalley & Gilson, 2004).2 Mô hình nghiên cứu 2.1 Mô hình nghiên cứu các thành phần sáng tạo của Amabile (1985, 1996, 1997) Lý thuyết về sự sáng tạo của (Teresa M Amabile & Pillemer, 2012) cho rằng, có 3 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nhân viên là: chuyên môn, kỹ năng sáng tạo và động lực trong công việc. Amabile đã xây dựng mô hình các thành phần của sự sáng tạo bao gồm các nhân tố chính đóng góp vào sự sáng tạo. Các nhân tố được xác định đó là: Chuyên môn (expertise), các kỹ năng sáng tạo (creativity skills) và động lực trong công việc (task motivation). - Chuyên môn là những ghi nhớ kiến thức thực tế, trình độ kỹ thuật và tài năng đặc biệt trong một lĩnh vực nào.
Sau này Amabile gọi chuyên môn là những kỹ năng liên quan. Chuyên môn có thể hiểu đơn giản là gồm tất cả những gì một người biết và có thể làm việc hoặc giải quyết vấn đề trong một lĩnh vực nào đó (Teresa M Amabile, 1998). Nó bao gồm kiến thức, chuyên môn, kỹ năng kỹ thuật, sự thông minh và tài năng trong lĩnh vực đó (Amabile và Pillemer, 2012). Chuyên môn là nền tảng đóng vai trò then chốt cho tất cả các hoạt động sáng tạo (Teresa M Amabile et al.
Theo Amabile và một số nhà nghiên cứu (Castiglione, 2008; P. Eder, 2007; Wynder, 2008) thành phần này bao gồm: 9 + Tự chủ trong công việc là yếu tố nói về sự tự tin của một người về việc nắm giữ kiến thức, kỹ năng của mình để áp dụng vào công việc. Nó bao gồm cả kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng. + Tài năng đặc biệt liên quan đến công việc.1 Mô hình các thành phần của sự sáng tạo Nguồn: Amabile (1996) - Kỹ năng sáng tạo là kỹ năng tư duy sáng tạo.
Đây là cách người ta tiếp cận vấn đề bằng các suy nghĩ linh hoạt và mang tính tưởng tượng là cách (Teresa M Amabile, 1998). Nó tạo ra sự độc lập, chấp nhận rủi ro, các nhìn nhận vấn đề, phong phong cách làm việc và kỹ năng trong việc phát triển ý tưởng (Teresa M Amabile & Pillemer, 2012). Kỹ năng này phụ thuộc vào tính cách và vào cách nghĩ, cách làm việc của mỗi người. + Phong cách tư duy là yếu tố chỉ cách thức nhận biết và giải quyết vấn đề đi từ việc đổi mới đến thích ứng (Kirton, 1978; Tierney et al.
10 + Tự chủ trong sáng tạo thể hiện niềm tin của cá nhân trong việc chủ động tạo ra các hoạt động sáng tạo (Houghton & DiLiello, 2010). + Phong cách làm việc đề cập đến sự chăm chỉ, kiên định hoặc cách thức để hoàn thành các nhiệm vụ. + Tính cách liên quan đến hoạt động sáng tạo bao gồm nhiều đặc điểm như sự yêu thích, sự cuốn hút, tò mò, năng động, tự lập,… - Động lực trong công việc bao gồm hai dạng là động lực nội tại và động lực bên ngoài. Động lực nội tại liên quan đến sự đam mê về công việc đang làm việc bởi sự tò mò, thıć h thú, hoặc cảm giác thách thức.
Trong khi đó, động lực bên ngoài là mong muốn đạt được các mục tiêu khác bên ngoài công việc như giữ lời hứa, đến thời hạn hoặc một phần thưởng nào đó (Teresa M Amabile et al. Động lực nội tại là yếu tố thường được các nhà nghiên cứu tập trung vì vai trò quan trọng của nó đối với sự thúc đẩy con người hành động. Động lực bên ngoài cũng tồn tại trong tổ chức nhưng đôi khi không thể hiện rõ ràng hoặc không tạo được áp lực đổi mới đối với người lao động. Cho đến nay mô hình các thành phần trong sáng tạo của Amabile được nhiều nhà nghiên cứu vận dụng theo nhiều hướng phát triển khác nhau.
Các tác giả đã phân tích vai trò của các biến khác để giải thích thêm cho các thành phần của Amabile như thái độ, sự thấu hiểu công việc, kiến thức… 2.2 Mô hình nghiên cứu của Tierney & cộng sự (1999) Tierney và cộng sự (1999) đã tiến hành nghiên cứu trên 191 nhân viên R&D của một công ty hóa chất lớn đã được sử dụng để kiểm tra mô hình sáng tạo đa miền, tương tác về các đặc điểm của nhân viên, đặc điểm của nhà lãnh đạo và Trao đổi Lãnh đạo-Thành viên (LMX). Mô hình nghiên cứu được biểu diễn như sau: 11 Phong cách tư duy sáng tạo (creative cognitive stye) Động lực nội tại Sự sáng tạo của nhân viên (intrinsic motivation) (employee creativity) Sự trao đổi giữa lãnh đạo và nhân viên (leader-member exchange) Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu của Tierney & cộng sự (1999) Nguồn: Tierney & cộng sự (1999) Kết quả cho thấy rằng động lực nội tại của nhân viên và phong cách nhận thức, LMX, sự tương tác giữa động lực nội tại của nhân viên và động lực nội tại của nhà lãnh đạo và giữa LMX và phong cách nhận thức của nhân viên liên quan đến hiệu suất sáng tạo của nhân viên như được đo lường bằng xếp hạng của người giám sát, biểu mẫu tiết lộ sáng chế hoặc báo cáo nghiên cứu.