chương 1 khái quát về một số nội dung quan trọng của nghiên cứu bao gồm: Mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa thực tiễn của đề tài để từ đó đưa ra cái nhìn tổng thể cho kết cấu của bài nghiên cứu; là tiền đề để thực hiện các chương tiếp theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 là hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu những yếu tố có tác động đến sự hài lòng với công việc của đội ngũ người lao động trong các trường Phổ thông công lập của tỉnh BR-VT. Chương 2 sẽ gồm có 3 phần: - Phần thứ nhất: Giới thiệu cơ sở lý thuyết cho việc đánh giá, xác định các yếu tố tác động đến sự hài lòng trong công việc của đội ngũ người lao động trong các trường phổ thông công lập của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. - Phần thứ hai: Tổng quan các nghiên cứu liên quan - Phần thứ ba: Mô hình nghiên cứu các yếu tố có tác động đến sự hài lòng trong công việc của đội ngũ người lao động trong các trường phổ thông công lập của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng trong công việc 2. Khái niệm sự hài trong công việc của các nhà nghiên cứu Sự hài lòng với công việc là thái độ ảnh hưởng và cảm nhận của người làm việc về những khía cạnh khác nhau trong công việc mà họ thực hiện. Cũng có nhiều ý kiến,quan điểm khác nhau của những nhà nghiên cứu trong việc định nghĩa vềsự hài lòng với công việc. Lý thuyết đã cho rằng sự hài lòng của một người đối với công việc là do bản chất công việc của người đó hoặc các yếu tố khác thuộc môi trường làm việc.
Sự hài lòng có được trong công việc sẽ mang động lực làm việc cho từng nhân sự trong tổ chức; qua đó giúp cho các cơ sở giáo dục nhà trường xây dựng được những chính sách, phương thức để duy trì và phát triển nhân sự tốt hơn, làm cho nhân viên được hài lòng hơn, thu hút được người tài giỏi, vừa hồng vừa chuyên để góp phần vào hiệu quả hoạt động của tổ chức. Sự hài lòng với công việc cũng có thể được quan sát thái độ chung của người lao động đối với công việc mình đang đảm nhiệm. Điều này cho thấy rằng một nhân viên được hài lòng bởi công việc của mình. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Theo Locke (1976) đã giải thích sự hài lòng với công việc được xem có ảnh hưởng tích cực của nhân viên trong công việc của họ.
Sự hài lòng với công việc đã trở thành yếu tố quan trọng và liên tục được nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý. Từ các nghiên cứu trước đây, mục tiêu tổ chức chủ yếu là sự hài lòng với công việc và rất cần thiết cho mức độ cạnh tranh cao hơn và sự thành công của tổ chức. Garcia Bernal và cộng sự (2005) đã xác định "Hài lòng" là "trạng thái cuối cùng của quá trình tâm lý.Không có định nghĩa về "sự hài lòng công việc" trên toàn thế giới nhưng nó là một khái niệm đa chiều bao gồm tài sản của những cảm xúc thuận lợi hoặc bất lợi mà nhân viên cảm nhận được qua công việc của mình đang làm. Mục tiêu tổ chức chủ yếu là sự hài lòng với công việc là rất cần thiết cho mức độ cạnh tranh cao hơn và sự thành công của tổ chức Davis cùng với Newstrom (1999) cho rằng sự hài lòng của bạn là một thuật ngữ mới, cho biết có bao nhiêu người hài lòng và sự hài lòng trong công việc của họ.
Trong thời gian qua, các công việc không có sẵn như todays. Việc làm của người dân đã được xác định theo cách mà tổ tiên họ làm hoặc nghề họ làm. Thực tế cho thấy lợi ích của sự hài lòng với việc ở mọi tổ chức: Tạo ra sự nhiệt tình, trung thành, gắn kết với tổ chức; qua đó giảm được các chi phí tuyển dụng, chi phí đào tạo cũng như giảm thiểu, hạn chế các lỗi sai sót từ các viên chức và người lao động mới đến làm việc. Saari and Judge (2004) đã chứng minh sự hài lòng công việc sẽ làm cho người lao động trung thành hơn, việc xin nghỉ việc cũng ít khi xảy ra; đồng thời giảm tình trạng đình công hoặc gia tăng những hoạt động của công đoàn.
Không có định nghĩa về "sự hài lòng công việc" trên toàn thế giới, nhưng nó là một khái niệm đa chiều bao gồm tài sản của những cảm xúc thuận lợi hoặc bất lợi mà nhân viên cảm nhận được từ công việc của họ. Đối với hầu hết các tổ chức, nhân viên là nguồn lực quan trọng và chúng đại diện cho một khoản đầu tư quan trọng, nếu họ hài lòng và trung thành với công việc của họ. Minh chứng mọi tổ chức trong khu vực công hay khu vực tư đều quan tâm đến nhân sự và giá trị mang lại của sự hài lòng trong công việc. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Hinh1 1: Job Satisfaction 2.
Khái niệm về viên chức, viên chức có vị trí việc làm là công việc hỗ trợ, phục vụ trong trường học và người lao động Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Điều 2 Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010, Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010. Viên chức có vị trí việc làm là công việc hỗ trợ, phục vụ trong trường học bao gồm: kế toán, văn thư, y tế, thư viện, thiết bị, cấp dưỡng (Văn bản số 3561/BGDĐT- Văn bản số 3561/BGDĐT-NGCBQLGDCSGD ngày 21 tháng 7 năm 2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc bổ nhiệm, xếp lương theo tiêu chuẩn chức danh viên chức làm công việc hỗ trợ, phục vụ trong trường học). Viên chức làm công tác y tế trường học, có đủ tiêu chuẩn của chức danh nghề nghiệp bác sĩ, y sĩ quy định tại Thông tư liên tịch số 10/2015/TTLT-BYT-BNV ngày TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 27 tháng 5 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, y sĩ được xem xét để bổ nhiệm và xếp lương theo chức danh nghề nghiệp bác sĩ, y sĩ. Viên chức làm công tác thư viện trường học, có đủ tiêu chuẩn của các chức danh nghề nghiệp thư viện quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2015/TTLT- BVHTTDL-BNV ngày 19 tháng 05 năm 2015 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành thư viện được xem xét để bổ nhiệm và xếp lương theo chức danh nghề nghiệp thư viện.
Viên chức làm công tác kỹ thuật công nghệ thông tin trong trường học, có đủ tiêu chuẩn của chức danh nghề nghiệp kỹ sư, kỹ thuật viên quy định tại Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ được xem xét để bổ nhiệm và xếp lương theo chức danh nghề nghiệp kỹ sư, kỹ thuật viên. Viên chức làm công tác văn thư trong trường học, có đủ tiêu chuẩn của các chức danh nghề nghiệp văn thư quy định tại Thông tư số 14/2014/TT-BNV ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Bộ Nội vụ quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành văn thư được xem xét để bổ nhiệm và xếp lương theo chức danh nghề nghiệp ngạch văn thư (quy định tại Khoản 2 Điều 8 Thông tư số 14/2014/TT-BNV nêu trên). Đối với các viên chức làm công tác phục vụ khác đã được bổ nhiệm vào các ngạch công chức hành chính và xếp lương theo quy định tại Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước (Bảng 2) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ, nay tiếp tục được trả lương theo các ngạch, bậc hiện hưởng cho đến khi có quy định mới đối với nhóm đối tượng này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Theo quy định tại Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo mới ban hành ngày 12 tháng 7 năm 2017 quy định về nhóm viên chức vị trí việc làm gắn với công việc hỗ trợ, phục vụ (09 vị trí): Thư viện ;thiết bị, thí nghiệm; công nghệ thông tin; kế toán; thủ quỹ; văn thư; y tế; hỗ trợ giáo dục người khuyết tật; giáo vụ (áp dụng đối với trường phổ thông dân tộc nội trú, trường chuyên và trường dành cho người khuyết tật).
Người lao động theo quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ về việc thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc sau đây trong cơ quan quản lý, cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập (Điều 1) quy định: Thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc sau đây trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: Sửa chữa, bảo trì đối với hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước ở công sở, xe ô tôvà các máy móc, thiết bị khác đang được sử dụng trong cơ quan, đơn vị sựnghiệp: Lái xe, bảo vệ, vệ sinh; trông giữ phương tiện đi lại của cán bộ, công chức và khách đến làm việc với cơquan, Đơn vị sự nghiệp công lập ; công việc khác. Lý thuyết về sự hài lòng trong công việc: 2.1 Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Maslow (1943) Cho rằng con người ai cũng có những nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn. Maslow đã chia những nhu cầu thành 05 loại và sắp xếp theo thứ bậc từ thấp (cấp thiết nhất) đến cao (ít cấp thiết) bao gồm: (1) Nhu cầu sinh lý: Là nhu cầu được xem là cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục. Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được.