CHƯƠNG 1 Trong chương này tác giả đã trình bày sự cần thiết và lý do của nghiên cứu, đồng thời đã giới thiệu phương pháp nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, kết cấu của luận văn và cuối cùng là ý nghĩa thực tiễn của đề tài. 4 CHƯƠ NG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ M Ô HÌNH NGHIÊN CỨ U 2.1 Tổng quan về sự hài lòng 2.1 Quan niệm về sự hài lòng công việc Hài lòng, mãn nguyện hay thỏa mãn là một trạng thái cảm xúc có thể được xem là trạng thái tinh thần, một hình thức hạnh phúc nhẹ nhàng và dự kiến cao hơn (theo Eisenblatt, 2002). Với Kotler (2000), định nghĩa “Sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ”. Theo Karatepe and Kilic (2007), sự hài lòng / không hài lòng trong công việc được định nghĩa là thái độ tích cực hoặc tiêu cực của một người về việc đánh giá công việc của họ, không có ý định / có ý định rời bỏ tổ chức và giới thiệu tốt / không tốt về tổ chức với bên ngoài.
Còn theo Kusku (2003) cho rằng sự hài lòng công việc phản ánh nhu cầu và mong muốn cá nhân được đáp ứng và mức độ cảm nhận của các nhân viên về công việc của họ. Định nghĩa này xuất phát từ lý thuyết thang đo nhu cẩu của Maslow (1943) cho rằng người lao động hài lòng khi đáp ứng các nhu cầu từ thấp lên cao. Theo Brin (2002), sự hài lòng chính là việc yêu thích trong công việc “Nếu bạn thích công việc của mình, bạn sẽ có được sự hài lòng trong công việc cao. Nếu bạn không thích công việc của mình một cách mạnh mẽ, bạn sẽ cảm thấy không hài lòng về công việc”.
Như vậy nói một cách đơn giản, sự hài lòng của nhân viên trong công việc có thể được định nghĩa là mức độ tích cực của cảm xúc hoặc thái độ mà họ có đối với công việc. Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng sự hài lòng công việc là trạng thái cảm xúc tích cực của người lao động với công việc thể hiện qua hành vi, niềm tin của họ ( Vroom, 1964; Locke, 1976; Quinn và Staines, 1979…). 5 Hài lòng công việc là một khái niệm chưa được thống nhất của các nghiên cứu xuất phát từ nhiều góc nhìn khác nhau, các lĩnh vực khác nhau. Nhìn chung có hai xu hướng định nghĩa sự hài lòng công việc: Xu hướng 1: Xem xét sự hài lòng công việc mang tính chất cảm xúc (tích cực và tiêu cực) của người lao động tới công việc có thể ảnh hưởng đến niềm tin, hành vi của người lao động.
Xu hướng 2: Xem xét sự hài lòng công việc dưới nhiều khía cạnh công việc khác nhau. Trong nghiên cứu này sự hài lòng công việc được xem xét dưới cả các khía cạnh của công việc và sự hài lòng tổng thể của người lao động với công việc nói chung.2 Một số cơ sở lý thuyết về hài lòng công việc 2.1 Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Trong hệ thống lý thuyết quản trị và động viên, thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow là thuyết có được một sự hiểu biết rộng lớn. Maslow cho rằng hành vi của con người bằt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng. Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: - Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý: Là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác.
- Những nhu cầu về an toàn và an ninh: Là các nhu cầu an toàn, không bị đe dọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ… - Những nhu cầu xã hội: Là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, xã hội. - Những nhu cầu tự trọng: Là những nhu cầu về tự trọng, tự tôn người khác, được người khác tôn trọng, địa vị. 6 - Những nhu cầu tự hoàn thiện: Là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước. Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: Cấp cao và cấp thấp.
Các nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh lý và an toàn, an ninh. Các nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, được tôn trọng và tự hoàn thiện. Maslow cho rằng làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp thấp là dễ hơn so với việc làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp cao vì các nhu cầu cấp thấp là có giới hạn và có thể được thỏa mãn từ bên ngoài. Ông cho rằng đầu tiên các nhu cầu ở cấp thấp nhất họat động, nó đòi hỏi được thỏa mãn và như vậy nó là động lực thúc đẩy con người hành động, nó là nhân tố động viên.
Khi các nhu cầu này được thỏa mãn thì nó không còn là yếu tố động viên nữa, lúc đó các nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ xuất hiện. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản trị đó là muốn động viên người lao động thì điều quan trọng là bạn phải hiểu người lao động của bạn đang ở cấp độ nhu cầu nào. Từ sự hiểu biết đó cho phép bạn đưa ra các giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu của ngừơi lao động, đồng thời bảo đảm đạt đế các mục tiêu tổ chức 2.2 Thuyết ba nhu cầu của Mclelland (1988). Lý thuyết của David Mc.Clelland tập trung vào ba loại nhu cầu của con người: Nhu cầu về thành tích, nhu cầu về quyền lực và nhu cầu về liên minh.
Chúng được định nghĩa như sau (Robbins, 2002): Nhu cầu về thành tích là sự cố gắng để xuất sắc, để đạt được thành tích đối với bộ chuẩn mực nào đó, nỗ lực để thành công. Người có nhu cầu thành tích cao là người luôn theo đuổi việc giải quyết công việc tốt hơn, họ muốn vượt qua khó khăn, trở ngại. Họ muốn cảm thấy rằng thành công hay thất bại của họ là do kết quả của những hành động của họ. Điều này có nghĩa là họ thích các công việc mang tính thách thức.
Những người có nhu cầu thành tích cao được động viên làm việc to lớn hơn. Đặc tính chung của những người có nhu cầu thành tích cao: Lòng mong muốn thực hiện các trách nhiệm cá nhân, xu hướng 7 đặt ra các mục tiêu cao cho chính họ, nhu cầu cao về sự phản hồi cụ thể, ngay lập tức; nhanh chóng, sớm làm chủ công việc của họ. Nhu cầu về quyền lực là nhu cầu khiến người khác cư xử theo cách họ mong muốn. Các nhà nghiên cứu chỉ ra ràng người có nhu cầu quyền lực mạnh và nhu cầu thành tựu có xu hướng trở thành các nhà quản trị.
Nhu cầu về liên minh là mong muốn có được các mối quan hệ thân thiện và gần gũi với người khác. Cũng giống như nhu cầu xã hội, đó là được chấp nhận tình yêu, bạn bè… người lao động có nhu cầu này mạnh mẽ làm việc lớn những công việc tạo ra sự thân thiện và các quan hệ xã hội Nhu cầu thành tích của McClelland được thể hiện trong nghiên cứu này dưới dạng tính chất công việc mới. Công việc được thiết kế sao cho nhân viên đạt được thành tựu họ mong muốn. Còn nhu cầu liên minh thể hiện mối quan hệ với lãnh đạo trực tiếp và với đồng nghiệp.
Cuối cùng, nhu cầu quyền lực được thể hiện ở cơ hội được đào tạo, thăng tiến.3 Thuyết hai nhân tố của F. Herzberg (1959) Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại: Các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì. Các nhân tố duy trì bao gồm: Điều kiện công việc, lương, chính sách của công ty, mối quan hệ giữa các cá nhân. Các nhân tố động viên là những nhu cầu cấp cao, nó bao gồm: Thành tựu, sự thừa nhận, trách nhiệm và cơ hội thăng tiến.
Đối với các nhân tố động viên người lao động làm việc tích cực, chăm chỉ hơn. Nhưng nếu không được giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không thỏa mãn chứ chưa chắc đã bất mãn. Trong khi đó đối với các nhân tố duy trì, nếu giải quyết không tốt sẽ tạo ra sự bất mãn, nhưng nếu giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không bất mãn chứ chưa chắc đã có tình trạng thỏa mãn. Các nhân tố được F.Herzberg liệt kê như sau: - Các nhân tố duy trì gồm: Sự giám sát, lương bổng, quan hệ với đồng nghiệp, điều kiện làm việc, chính sách của công ty, địa vị, quan hệ qua lại giữa các cá nhân.
8 - Các nhân tố động viên gồm: Thành tích, thành tựu đạt được; sự công nhận; các cơ hội thăng tiến và phát triển; ý nghĩa công việc; tính trách nhiệm. Thuyết hai nhân tố của F.Herzberg có những ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản trị: Thứ nhất những nhân tố làm thỏa mãn người lao động khác với các nhân tố tạo ra sự bất mãn. Vì vậy nhà quản trị không thể mong đợi sự thỏa mãn của người lao động bằng cách đơn giản là xóa bỏ các nguyên nhân gây ra sự bất mãn. Thứ hai việc động viên người lao động đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng đồng thời cả hai nhóm nhân tố duy trì và nhân tố động viên.
Trách nhiệm của đội ngũ quản trị là phải loại trừ sự bất mãn và tạo ra sự thỏa mãn, không thể chú trọng một nhóm nào cả.4 Thuyết công bằng của Stacey John Adams (1963) Thuyết công bằng cho rằng con người được kích thích để tìm kiếm sự công bằng trong xã hội thông qua các phần thưởng mà họ muốn đạt được. Người lao động trong tổ chức luôn muốn được đối xử một cách công bằng. Họ có xu hướng so sánh những đóng góp, cống hiến của mình với những đãi ngộ và phẩn thưởng mà họ nhận được (gọi là công bằng cá nhân). Hơn nữa, họ còn so sánh đóng góp, cống hiến, đãi ngộ và phần thưởng của mình với những người khác (gọi là công bằng xã hội).
Khi so sánh, đánh giá đóng góp, cống hiến với những đãi ngộ và phần thưởng của mình có thể có ba trường hợp xảy ra: Thứ nhất: Nếu người lao động cho rằng họ được đối xử không tốt, phần thưởng không xứng đáng với công sức họ đã bỏ ra thì họ sẽ bất mãn và từ đó họ sẽ làm việc không hết khả năng của họ, thậm chí họ sẽ ngừng việc.