Chương 1: Những vấn đề chung về tiền gửi tiết kiệm và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng huy động tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn trên địa bàn TP. Chương 3: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng tại ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn trên địa bàn TP. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com iv Chương 4: Giải pháp gia tăng các nhân tố tích cực nhằm thu hút tiền gửi tiết kiệm của khách hàng tại ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn trên địa bàn TP.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN TIẾT KIỆM CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Hành vi gửi tiền tiết kiệm của khách hàng 1.1 Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Người gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm. Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm là một hình thức huy động vốn của các ngân hàng thương mại (NHTM).
NHTM sẽ nhận tiền gửi của các cá nhân thông qua việc mở các tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm không kỳ hạn và các hình thức tiền gửi tiết kiệm khác. Phân loại tiền gửi tiết kiệm Nếu căn cứ vào mục đích của người gửi tiền chia thành: Tiền gửi tiết kiệm an toàn, tích lũy Tiền gửi tiết kiệm hưởng lãi Nếu căn cứ vào thời hạn gửi tiền chia thành: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Kỳ hạn gửi tiền: là khoảng thời gian kể từ ngày người gửi tiền bắt đầu gửi tiền vào tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đến ngày tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm cam kết trả hết tiền gốc và lãi tiền gửi tiết kiệm. Kỳ hạn gửi tiền cụ thể do tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quy định. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm nhờ ngân hàng cất trữ, bảo quản hộ tài sản, tích lũy tài sản nên khách hàng thường phải trả lệ phí cho ngân hàng, nhưng do cạnh tranh và các ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để hoạt động nên khách hàng không phải trả phí mà ngân hàng trả lãi cho khách hàng với lãi suất khuyến khích (thấp). Đối với những khách hàng khi lựa chọn hình thức tiết kiệm này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trong hơn mục sinh lợi. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Mục đích của loại tiền gửi này là khách hàng muốn đầu tư để hưởng lãi chứ không phải để cất trữ hay thanh toán.
Chính vì vậy lãi suất của nguồn này tương đối cao. Các hình thức thường thấy là phiếu tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu tiết kiệm, … 1.2 Các nguyên tắc huy động tiền gửi tiết kiệm Huy động tiền gửi tiết kiệm là một bộ phận không thể tách rời trong nghiệp vụ huy động vốn, chính vì vậy nó phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Hoàn trả: là nguyên tắc cơ bản, theo đó NHTM phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng khi có yêu cầu hoặc khi đáo hạn. Nhờ vậy sẽ tạo được lòng tin nơi khách hàng để họ yên tâm gửi tiền vào ngân hàng đảm bảo an toàn. Để hoàn trả cho khách hàng, NHTM cần có biện pháp sử dụng vốn an toàn, hiệu quả.
Trong trường hợp có kinh doanh thua lỗ, NHTM bị phá sản thì việc hoàn trả tiền cho khách hàng được thực hiện thông qua bảo hiểm tiền gửi. Thông thường hầu hết các nước trên thế giới, khi nhận tiền gửi của khách hàng các NHTM đều phải mua bảo hiểm tiền gửi tại tổ chức bảo hiểm tiền gửi với mức phí theo quy định. Nếu NHTM bị phá sản thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ hoàn trả tiền gửi cho khách hàng theo mức chi tối đa theo quy định trong từng thời kỳ. Với cơ chế bảo hiểm tiền gửi nêu trên, không chỉ bảo đảm quyền lợi cho khách hàng, mà còn góp phần ngăn ngừa rủi ro và giữ vững an toàn cho hệ thống ngân hàng.
Trả lãi: NHTM không chỉ phải hoàn trả vốn gốc mà còn phải có trách nhiệm trả lãi cho khách hàng, cho dù ngân hàng kinh doanh có lãi hoặc lỗ. Nguyên tắc này TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 đảm bảo cho người gửi tiền được bảo toàn vốn và có thu nhập thích đáng dưới hình thức lãi. Cho nên gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng, hoặc mua kỳ phiếu, trái phiếu do ngân hàng phát hành đều là những hình thức đầu tư hiệu quả, và đảm bảo an toàn. Bảo mật: giữ bí mật tài khoản khách hàng hết sức quan trọng và đó cũng là nhiệm vụ yêu cầu NHTM phải bảo mật thông tin tiền gửi của khách hàng.
Cụ thể, NHTM phải giữ bí mật tài khoản của khách hàng, tình hình số dư và biến động tài khoản tiền gửi của khách hàng, ngoại trừ các trường hợp đặc biệt như yêu cầu của cơ quan chức năng. Bảo mật thông tin khách hàng trở thành một trong những tiêu chuẩn hàng đầu của các ngân hàng trên thế giới.3 Tầm quan trọng của hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng. Không có nghiệp vụ huy động vốn xem như không có hoạt động của ngân hàng thương mại. Một NHTM khi được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định.
Tuy nhiên vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác. Để có vốn phục vụ cho các hoạt động này ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng. Nghiệp vụ huy động vốn, do vậy, có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với khách hàng (Nguyễn Minh Kiều, 2009, trang 93).1 Đối với ngân hàng thƣơng mại Vốn huy động, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tài sản nợ của NHTM, tạo nên nguồn vốn quan trọng của NHTM. Huy động vốn là nền tảng, quyết định đến sự tồn tại, phát triển của NHTM.
Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM hình thành nguồn vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh, thực hiện các nghiệp vụ cho vay, tài trợ, đầu tư, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán, uỷ thác. tạo ra nguồn lợi nhuận cho NHTM, đảm bảo cho sự phát triển vững mạnh của NHTM. Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu (bao gồm của pháp nhân và thể nhân) gửi vào ngân hàng, mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quy mô huy động vốn càng lớn thì khả năng cấp tín dụng càng cao.
Huy động vốn là cơ sở để ngân hàng thu hút khách hàng đến giao dịch, góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu của ngân hàng (Trầm Thị Xuân Hương, 2012, trang 25).2 Đối với khách hàng Nghiệp vụ huy động vốn giúp cho khách hàng thuận lợi trong việc tích luỹ, để dành các khoản thu nhập nhàn rỗi chưa sử dụng cho mục tiêu hay nhu cầu tài chính đã dự định trong tương lai. Với những hình thức huy động vốn phong phú của ngân hàng, khách hàng dễ dàng lựa chọn cho mình một hình thức huy động phù hợp theo yêu cầu về lãi suất, thời hạn, cách tính lãi và thanh toán lãi, mục đích. Bên cạnh đó, những hình thức này đương nhiên quy định trong một hợp đồng kinh tế được ký kết hay thoả ước giữa ngân hàng và khách hàng, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng là được hưởng lãi và đảm bảo an toàn về tài sản. Có thể nói đây là hình thức đầu tư an toàn, không thể thiếu được trong danh mục đầu tư của bất kỳ nhà đầu tư trên thị trường tài chính.
Lãi suất ngân hàng được coi là thu nhập tối thiểu, là cơ sở để so sánh với thu nhập của các hình thức đầu tư khác trên thị trường trước khi nhà đầu tư quyết định lựa chọn hình thức đầu tư hợp lý. Đối với khách hàng, việc nắm giữ quyền sở hữu các chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, cũng như các chứng từ có giá khác.ngoài việc được quyền hưởng lãi, họ còn có thể dễ dàng mua bán chuyển nhượng các chứng từ có giá trên thị trường, tạo nên tính thanh khoản cao cho người sở hữu nó. Nhờ vậy khách hàng có thể dễ dàng chuyển đổi các tài sản này thành tiền mặt bất cứ lúc nào, bằng cách cầm cố, chiết khấu cho NHTM hoặc bán lại trên thị trường tiền tệ. Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng có thể tiếp cận những tiện ích của các dịch vụ ngân hàng, bảo đảm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của khách hàng khi đến giao dịch với NHTM.4 Hành vi quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng tại NHTM Kuester và Sabine (2012) chỉ ra rằng hành vi tiêu dùng chính là cách thức cá nhân hoặc tổ chức lựa chọn sản phẩm, dịch vụ.
Như vậy, hành vi tiêu dùng liên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 quan đến tâm lý, nhu cầu và quyết định tiêu dùng của người tiêu dùng (Armstrong, 1991).