CHƯƠNG 1 Trong chương này, nêu rõ ra tính cấp thiết của vấn đề huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng tại Agribank trên địa bàn TP. Từ đó, nêu ra được các mục tiêu cụ thể cho đến mục tiêu tổng quát và các câu hỏi cho nghiên cứu này thông qua đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Là cơ sở để thực hiện các nội dung ở chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền tệ vì mục đích lợi nhuận.Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Với tư cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại được pháp luật cho phép thực hiện rộng rãi các loại nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng như: nhận tiền gửi có kì hạn, không kì hạn; thực hiện nghiệp vụ chiết khấu; dịch vụ thanh toán; huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ nhận nợ.Rose và Sylvia C. Hudgins (2008) đã định nghĩa NHTM theo ba nội dung sau: (1) chức năng kinh tế, liên quan đến chức năng trung gian giữa người gửi tiền và người vay tiền; (2) dịch vụ cung cấp cho khách hàng như quản lý tài khoản, tiết kiệm, cho vay doanh nghiệp, cá nhân và chính phủ; (3) qui định pháp luật cơ bản để tồn tại, Chính phủ Liên bang ban hành qui định và giám sát hoạt động ngân hàng.
Theo Luật các TCTD (2010), NHTM là loại ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo qui định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tiền gửi tiết kiệm là một khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền tiết kiệm tại ngân hàng. Khách hàng sẽ được trả một khoản lợi nhuận nhất định do ngân hàng chi trả dựa trên mức lãi suất áp dụng khi mở tài khoản tiết kiệm. Người gửi tiền tiết kiệm là chủ sở hữu, hoặc đồng sở hữu tiền gửi tiết kiệm.Về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân chưa được sử dụng tới.
Họ gửi vào ngân 8 hàng với mục đích tích lũy tiền một cách an toàn và hưởng lãi suất theo quy định. Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt của tích lũy tiền tệ trong tiêu dùng cá nhân. Hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tiết kiệm có sổ, người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một quyển sổ dùng để theo dõi tiền gửi vào và rút ra, đồng thời quyển sổ này cũng chứng nhận số tiền đã gửi. Quyển sổ này có thể đem cầm cố hoặc thế chấp vay vốn.
Theo Quy định về tiền gửi tiết kiệm số 48/2018/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng”. Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm là một hình thức huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Khách hàng có thể gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn và các hình thức gửi tiền tiết kiệm khác.2 Các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm nhờ ngân hàng cất trữ, bảo quản hộ tài sản, tích lũy tài sản nên khách hàng thường phải trả lệ phí cho ngân hàng, nhưng do cạnh tranh và các ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để hoạt động nên khách hàng không phải trả phí mà ngân hàng trả lãi cho khách hàng với lãi suất khuyến khích (thấp).
Đối với những khách hàng khi lựa chọn hình thức tiết kiệm này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trong hơn mục tiêu sinh lợi. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Theo thông tư số 49/2018/TT-NHNN về việc Quy định tiền gửi có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Mục đích của loại tiền gửi này là khách hàng muốn đầu tư để hưởng lãi chứ không phải để cất trữ hay thanh toán. Chính vì vậy lãi suất của nguồn này tương đối cao.
Các hình thức thường thấy 9 là phiếu tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu tiết kiệm…Tùy thuộc vào mục đích mà khách hàng có thể lựa chọn các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm cho phù hợp như: - Tiết kiệm an toàn, tích lũy - Tiết kiệm linh hoạt - Tiết kiệm bậc thang - Tiết kiệm gửi góp - Tiết kiệm dự thưởng - Tiêt kiệm phát lộc 2.3 Tầm quan trọng của huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM 2. Đối với NHTM Nguồn tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn huy động của NHTM. Do đó hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM có tầm quan trọng: Thứ nhất: quyết định quy mô hoạt động của NHTM Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng đáng kể trong tài sản nợ của NHTM, tạo nên nguồn vốn quan trọng của NHTM, là nền tảng, quyết định đến sự tồn tại, phát triển của NHTM. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM hình thành nguồn vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh, thực hiện các nghiệp vụ cho vay, tài trợ, đầu tư, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán, uỷ thác.
tạo ra nguồn lợi nhuận cho NHTM, đảm bảo cho sự phát triển vững mạnh của NHTM Thông thường nếu so với các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của các ngân hàng này cũng nhỏ hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay được ở thị trường trong nước, ngoài nước thì các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, mà chủ yếu trong cộng đồng. Mặt khác do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động về chính sách, gây ảnh 10 hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế. Thứ hai quyết định khả năng thanh toán và uy tín NHMT Để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín trên thị trường là điều trọng yếu.
Uy tín đó trước hết phải được thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng, khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn, đồng thời với nó tạo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng lớn, đồng thời với nó tạo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với quy mô lớn, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có quan hệ, đảm bảo uy tín, nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thị trường. Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm là tài sản bằng tiền của các cá nhận gửi vào ngân hàng, mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng. Quy mô huy động vốn càng lớn thì khả năng cấp tín dụng càng cao. Huy động vốn là cơ sở để ngân hàng thu hút khách hàng đến giao dịch, góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu của ngân hàng 2.
Đối với khách hàng gửi tiền Nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm giúp cho các cá nhân thuận lợi trong việc tích luỹ, để dành các khoản thu nhập nhàn rỗi chưa sử dụng cho mục tiêu hay nhu cầu tài chính đã dự định trong tương lai. Với những hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm đa dạng của ngân hàng, khách hàng dễ dàng lựa chọn cho mình một hình thức gửi tiền phù hợp theo yêu cầu về lãi suất, thời hạn, cách tính lãi và thanh toán lãi, mục đích. Bên cạnh đó, những hình thức này đương nhiên quy định trong một hợp đồng kinh tế được ký kết hay thoả ước giữa ngân hàng và khách hàng, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng là được hưởng lãi và đảm bảo an toàn về tài sản. Có thể nói đây là hình thức đầu tư an toàn, không thể thiếu được trong danh mục đầu tư của bất kỳ nhà đầu tư trên thị trường tài chính.
Lãi suất ngân hàng được coi là thu nhập tối thiểu, là cơ sở để so sánh với thu nhập của các hình thức đầu tư khác trên thị trường trước khi nhà đầu tư quyết định lựa chọn hình thức đầu tư hợp lý. 11 Đối với khách hàng, việc nắm giữ quyền sở hữu các chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, ngoài việc được quyền hưởng lãi, họ còn có thể dễ dàng mua bán chuyển nhượng các chứng từ có giá trên thị trường, tạo nên tính thanh khoản cao cho người sở hữu nó. Nhờ vậy khách hàng có thể dễ dàng chuyển đổi các tài sản này thành tiền mặt bất cứ lúc nào, bằng cách cầm cố, chiết khấu cho NHTM hoặc bán lại trên thị trường tiền tệ. Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng có thể tiếp cận những tiện ích của các dịch vụ ngân hàng, bảo đảm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của khách hàng khi đến giao dịch với NHTM.
Quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng tại NHTM 2. Các lý thuyết về hành vi quyết định của khách hàng. Khái niệm hành vi tiêu dùng Hiện này, có nhiều nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều khái niệm về hành vi khách hàng (người tiêu dùng) khác nhau, cho chúng ta một cách nhìn đa chiều hơn về hành vi khách hàng. Theo Philip Kotler (2007): " Hành vi người tiêu dùng hay còn gọi là khách hàng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ".
Trong khi đó, ở một cách tiếp cận khác, Michael, R. (1992) cho rằng:"Hành vi khách hàng là một tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/dịch vụ, những suy nghĩ đã có, kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ. Tiếp đến, James, F.