Chương 1: Tác giả giới thiệu nguyên nhân chọn vấn đề nghiên cứu, mục tiêu cần đạt được khi nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu và tính cấp thiết cần tiến hành nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết đo lường nghèo. Đưa ra các định nghĩa về nghèo, bao gồm cả nghèo tiền tệ- nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều.
Sau đó tác giả cũng khảo lược các nghiên cứu trước có liên quan đến cách tiếp cận nghèo đa chiều. Từ đó hệ thống hóa khung lý thuyết phân tích nghèo làm cơ sở nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu.Phương pháp nghiên cứu. Nêu ra 03 chiều của nghèo và các chỉ số đại diện. Xác định phương pháp nghiên cứu,mô hình kinh tế lượng cần nghiên.
Xác định trọng số giữa các chiều, các chỉ tiêu trong chỉ số đo lương nghèo đa chiều MPI Chương 4: Thực trạng tình trạng nghèo trên địa bàn Tỉnh Long An và Thiết kế nghiên cúu. Nội dung của chương này nêu ra thực trạng kinh tế, xã hội , tình trạng nghèo trên địa bàn Tỉnh Long An, và cụ thể ở các huyện Đức Huệ, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng. Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Tác giả dùng phương pháp thống kê mô tả và mô hình hồi qui Binary logistic để phân tích trả lời các câu hỏi nghiên cứu và đạt được mục tiêu cần nghiên cứu.
Chương 5 : Kết luận và gợi ý chính sách. Chương này sẽ tóm lược lại những kết quả quan trọng của đề tài và đặc biệt là sự khác nhau giữa hai phương pháp tiếp cận nghèo đơn chiều và đa chiều. Từ đó, đề xuất một số hàm ý chính sách về chương trình xóa đói giảm nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Mục đích của chương nhằm trình bày hệ thống các khái niệm, lý thuyết về nghèo, các phương pháp tiếp cận nghèo.
Theo đó, nội dung của phương pháp tiếp cận nghèo tiền tệ và nghèo đa chiều được trình bày một cách hệ thống. Ngoài ra, nội dung chương sẽ khảo lược một số các nghiên cứu thực nghiệm gần đây trong việc đánh giá nghèo đa chiều tại Việt Nam và một số nước trên thế giới nhằm làm nền tảng cho việc phân tích trong các chương tiếp theo.1 Tổng quan về cơ sở lý thuyết: 2.1 Nghèo Theo Ngân hàng phát triển Châu Á: “Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng. Mọi người cần được tiếp cận với giáo dục cơ sở và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản. Các hộ nghèo có quyền duy trì cuộc sống bằng chính lao động của họ và được trả công một cách hợp lý, cũng như được sự bảo trợ khi có biến động bên ngoài”.
Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa: “ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Hội nghị thượng định thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mạch năm 1995, đưa ra định nghĩa nghèo đói “ Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu tồn tại” Nghèo được định nghĩa như là sự thiếu hụt, hay là sự bất lực trong việc tiếp cận đến một mức sống mà xã hội chấp nhận (World Bank, 2001, trích bởi FAO, 2005). Ngân hàng thế giới cũng coi nghèo là sự thiếu hụt hạnh phúc (World Bank Institute, 2005). Hay nghèo là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống (ăn, mặc, ở, được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước (World Bank, 2010).
Hiện rất khó để có thể chỉ ra được tất cả những nguyên nhân của nghèo. Và cũng khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo, đâu là nguyên nhân còn đâu là kết quả. Nghèo ở mỗi nước cũng có những nét riêng biệt được tạo nên từ nhiều nguyên nhân tổng hợp có nguồn gốc từ những khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội và điều kiện lịch sử.1: Vòng luẩn quẩn của nghèo đói Sinh sản Năng nhiều suất Thiếu dinh Bệnh Đông Thu nhập Đầu tư dưỡng tật con thấp Thất Tích học lũy Góc độ xã hội Góc độ kinh tế Nguồn : PGS, TS.Đinh Phi Hổ (2008) 2.2 Nghèo đơn chiều : Theo cách tiếp cận này dẫn đến việc phân nhóm cá nhân hay hộ gia đình dựa trên thu nhập hay chi tiêu: Nghèo tuyệt đối là tình trạng mà một cá nhân hay hộ gia đình có thu nhập hay chi tiêu thấp hơn một ngưỡng nghèo được xác định đối với một xã hội tại một thời điểm. Ngưỡng nghèo là tổng hợp giá trị các hàng hóa tiêu dùng bảo đảm một mức sống tối thiểu.
Trong khi đó, cách tiếp cận nghèo tương đối xác định một mức sống so sánh với vị trí của các cá nhân hay hộ gia đình khác trong xã hội dựa trên phân phối thu nhập hay chi tiêu (FAO, 2005). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chuẩn nghèo của TCTK – NHTG được xây dựng theo phương pháp chuẩn chi phí của những nhu cầu cơ bản, dựa trên một rổ lương thực tham khảo cho các hộ nghèo tính theo lượng calo mà mỗi người dân tiêu tốn một ngày cộng với một khoản bổ sung cho những nhu cầu phi lương thực thiết yếu dựa trên mô hình tiêu dùng của người nghèo. Theo NHTG, chi phí lương thực, thực phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống của người dân các nước đang phát triển và khu vực ASEAN tương ứng với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100 - 2300 calo/ngày/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD/ người/ năm. 1 Tiêu chuẩn nghèo đói của Word Bank Khu vực Tiêu chuẩn nghèo Mức thu nhập hoặc chi tiêu (USD)/người/ngày Năm 2003 1 USD hoặc 360 USD/năm Năm 2008 1,25 USD hoặc 450 USD/năm (2 USD – PPP) Nguồn: Word Bank (2008) Tại Việt Nam, theo Bộ LĐTB&XH, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Chỉ tiêu đánh giá hộ nghèo tại Việt Nam: • Chỉ tiêu chính: Thu nhập bình quân một người 1 tháng (hoặc 1 năm) được đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực (gạo) tương ứng một giá trị để đánh giá. Khái niệm thu nhập ở đây là thu nhập thuần túy (tổng thu trừ đi tổng chi phí sản xuất). Tuy nhiên, cần nhấn mạnh chỉ tiêu thu nhập bình quân nhân khẩu hàng tháng là chỉ tiêu cơ bản nhất để xác định mức đói nghèo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 • Chỉ tiêu phụ: Là dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc và các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại.
Xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam : Việt Nam sử dụng hai cách tiếp cận rất khác nhau để đo lường tình trạng nghèo và theo dõi tiến trình giảm nghèo theo thời gian. Cách tiếp cận thứ nhất do Bộ LĐTB&XH xây dựng. Bộ LĐTB &XH vào đầu thập kỷ 1990 được Chính phủ chỉ định là cơ quan chịu trách nhiệm chính về các chính sách và chương trình giảm nghèo của Việt Nam. Thông qua sử dụng các chuẩn nghèo chính thức, Bộ LĐTB &XH chịu trách nhiệm đánh giá những thay đổi về nghèo đói và cập nhật hàng năm danh sách chính thức về các hộ nghèo, và sử dụng kết hợp phương thức “đi từ dưới lên trên” gồm các cuộc khảo sát tại địa phương và các cuộc tham vấn tại làng xã để xác định số người nghèo tại cấp địa phương (cấp xã).
Các số liệu xác định về số người nghèo tại cấp địa phương này sau đó được tổng hợp lại để ước tính tỷ lệ nghèo cho cấp tỉnh và cấp quốc gia. Các chuẩn nghèo của Bộ LĐTB &XH ban đầu được quy đổi ra thóc, từ năm 2005 được tính theo cách tiếp cận dựa vào chi phí cho những nhu cầu cơ bản. Các chuẩn nghèo chính thức không được điều chỉnh theo mức lạm phát, nhưng được xác định lại giá trị thực năm năm một lần. Bộ LĐTB &XH sử dụng cách thức tiếp cận này để xác định việc phân bổ ngân sách và đề ra điều kiện áp dụng cho các chương trình giảm nghèo mục tiêu.
Cách tiếp cận thứ hai do Tổng cục Thống kê chủ trì xây dựng và thực hiện việc đo lường nghèo đói và giám sát tiến trình giảm nghèo trên cơ sở các cuộc khảo sát hộ gia đình làm đại diện cho toàn quốc. TCTK sử dụng hai phương pháp khác nhau để đo lường nghèo đói- một phương pháp dựa trên các chuẩn nghèo chính thức (có điều chỉnh theo lạm phát) áp dụng cho thu nhập bình quân đầu người, và một phương pháp sử dụng cách tiếp cận do TCTK và Ngân hàng Thế giới xây dựng vào cuối thập kỷ 1990. Chuẩn nghèo ban đầu của TCTK-NHTG được xây dựng có sử dụng một phương pháp chuẩn về Chi phí cho những nhu cầu Cơ bản trên cơ sở tham chiếu đến rổ hàng lương thực tế của các hộ nghèo tính theo calo (2.100 kcal/ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 người/ ngày) cộng với một phần phân bổ của nhu cầu hàng phi lương thực thiết yếu dựa trên xu hướng tiêu dùng của người nghèo. Việc sử dụng liên tục hai hệ thống riêng biệt để đo lường và theo dõi nghèo đói tạo ra những đánh giá rất khác nhau về nghèo đói, đôi khi gây ra phức tạp cho việc đối thoại giữa cộng đồng tài trợ phát triển và các nhà nghiên cứu trong nước (những người thường sử dụng cách tiếp cận của TCTK-NHTG) với chính phủ (có xu hướng sử dụng cách tiếp cận chính thức của Bộ LĐTB&XH).
Bắt đầu từ năm 2009, một nhóm các cán bộ và chuyên gia tư vấn của Ngân hàng Thế giới cùng với các chuyên gia trong nước và quốc tế đã phối hợp với Tổng cục Thống kê nhằm chỉnh sửa và cập nhật hệ thống theo dõi nghèo của Việt Nam.