Chương 1: Tổng quan nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở lý thuyết - Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Chương 5: Kết luận và kiến nghị 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về minh bạch thông tin 2.1 Thông tin tài chính công bố Thông tin tài chính được thể hiện qua BCTC của doanh nghiệp. Hệ thống BCTC của doanh nghiệp trong khuôn mẫu kế toán hoặc chuẩn mực kế toán mà các tổ chức hay mỗi quốc gia quy định có thể có các yêu cầu khác nhau nhưng nhìn chung bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh BCTC. Ngoài BCTC, doanh nghiệp có thể lập báo cáo quản lý trong đó mô tả và diễn giải những đặc điểm chính về tình hình kinh doanh và tài chính, cũng như những sự kiện không chắc chắn chủ yếu mà doanh nghiệp phải đối phó nếu ban giám đốc xét thấy chúng hữu ích cho những người sử dụng trong quá trình ra các quyết định kinh tế. Tại Việt Nam, BCTC được lập, trình bày và công bố cần tuân thủ các yêu cầu của chuẩn mực kế toán Việt Nam, cụ thể theo VAS 01 – Chuẩn mực chung và VAS 21 - Trình bày báo cáo tài chính, thông tin trên BCTC cần phải trình bày đủ 6 yêu cầu như sau: (1) Trung thực; (2) Khách quan; (3) Đầy đủ; (4) Kịp thời; (5) Dễ hiểu và (6) Có thể so sánh.
Đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam cần tuân thủ thêm các yêu cầu của UBCKNN thể hiện qua các văn bản: Thông tư số 57/2004/TT-BTC có hiệu lực ngày 17 tháng 6 năm 2004 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán; Thông tư số 38/2007/TT-BTC có hiệu lực ngày 18 tháng 4 năm 2007; Thông tư số 52/2012/TT-BTC, có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 6 năm 2012 và những văn bản khác. Thông tin tài chính của các công ty niêm yết được rất nhiều đối tượng quan tâm, sử dụng, vì vậy nâng cao chất lượng thông tin tài chính sẽ giúp người sử dụng ra quyết định thích hợp. Bản chất của các yêu cầu trong các văn bản quy định về CBTT tài chính của doanh nghiệp là hướng đến sự minh bạch của thông tin công bố.2 Minh bạch thông tin tài chính Sự minh bạch (transparency) theo nghĩa đen thông thường là sự rõ ràng, trong suốt, có thể nhìn rõ được. Cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức, khái niệm sự minh bạch thường đi kèm với thông tin.
Hiện tại, có nhiều khái niệm về minh bạch thông tin: Daniel Kaufmann (1999) cho rằng, minh bạch thông tin là gia tăng luồng thông tin đáng tin cậy và kịp thời. Việc thiếu minh bạch là cố ý từ chối không cho tiếp cận thông tin hoặc làm sai lệch thông tin, hoặc không đảm bảo thông tin được cung cấp có mối liên quan đầy đủ và có chất lượng. Winkler (2000) cho rằng minh bạch là số lượng thông tin mà trên đó, các nhà kinh tế dựa vào đó để đưa ra các quyết định hoặc kỳ vọng của họ. DiPiazza và Eccles (2002) định nghĩa minh bạch là sự bắt buộc sẵn sàng cung cấp thông tin cần thiết cho cổ đông nhằm đưa ra những quyết định.
Ở góc độ công ty, Bushman (2001) định nghĩa minh bạch thông tin tài chính là sự sẵn có của thông tin cụ thể về công ty cho các nhà đầu tư và cổ đông bên ngoài. Theo International Finance Corporation (2006), minh bạch thông tin là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, nó cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và hiệu quả của một tổ chức, hoạt động kinh doanh và rủi ro liên quan đến các hoạt động này. Theo Vaccaro và Madsen (2009), minh bạch là mức độ đầy đủ của thông tin được cung cấp bởi mỗi công ty đến thị trường, liên quan đến hoạt động kinh doanh của họ. Minh bạch là phạm vi và nghệ thuật công bố của doanh nghiệp mà doanh nghiệp thực hiện trong báo cáo tài chính hàng năm, chủ yếu là báo cáo thường niên.
Lê Thị Mỹ Hạnh (2015), minh bạch TTTC là việc cung cấp các TTTC một cách tin cậy, kịp thời, chính xác, đầy đủ và nhất quán theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận 1 cách thuận tiện. 6 Nhìn chung, các khái niệm về minh bạch ở trên cơ bản là thống nhất với nhau. Như vậy có sự tương đồng giữa các khái niệm của các nhà nghiên cứu khác nhau về tính minh bạch thông tin. Minh bạch thông tin là sự công bố thông tin xác thực, kịp thời cho cơ quan quản lý chuyên ngành và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, bảo đảm rằng các nhà đầu tư đều có cơ hội tiếp cận các thông tin như nhau trong việc đánh giá tình hình hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh và rủi ro của doanh nghiệp để ra quyết định đầu tư.3 Tầm quan trọng của minh bạch thông tin tài chính trên TTCK Trên TTCK, thông tin các công ty niêm yết càng minh bạch có các lợi ích sau: (1) Minh bạch thông tin làm gia tăng sự bảo vệ nhà đầu tư Giúp nhà đầu tư tự mình quyết định nếu giá mà những nhà môi giới cho thấy họ có thể đạt được đối với giao dịch là mức giá tối ưu.
Do vậy, nhà đầu tư phải được cung cấp thông tin cần thiết để tự bảo vệ mình bằng cách tránh các nhà môi giới “không trung thực” khi họ thực hiện các giao dịch thay cho nhà đầu tư tại những mức giá bất lợi. (2) Minh bạch thông tin khuyến khích nhà đầu tư tham gia vào thị trường, thúc đẩy tính thanh khoản của thị trường. Để gia tăng việc bảo vệ nhà đầu tư, minh bạch làm tăng tính trung thực của thị trường chứng khoán và thúc đẩy lòng tin của nhà đầu tư trên thị trường, do đó khuyến khích sự tham gia của tất cả các nhà đầu tư. Sự tham gia này làm tăng tính thanh khoản của thị trường.
Sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức trên thị trường chứng khoán được khuyến khích ngày càng nhiều hơn vì những tổ chức đó ít có lý do để lo sợ gặp những giao dịch lừa đảo, điều đó được xem như là thị trường có sự triển vọng thành công. Hơn nữa, minh bạch làm giảm rủi ro mà nhà đầu tư cá nhân trên cả thị trường tiền mặt và thị trường công cụ phái sinh, rủi ro sẽ bị loại bỏ bởi các chuyên gia thị trường trước khi thông tin giao dịch được thông báo. 7 Nếu quá nhiều thông tin bí mật về hoạt động giao dịch tồn tại trong thị trường chứng khoán, rủi ro trở nên quá lớn đối với một người mà họ đang giao dịch với người khác có mức độ thông tin cao hơn, ảnh hưởng đến tính thanh khoản và hiệu quả của thị trường chứng khoán. (3) Minh bạch góp phần phát triển tính hiệu quả của thị trường chứng khoán.
Một lợi ích khác của sự minh bạch là khả năng xóa bỏ một vài nhược điểm của cấu trúc thị trường không tập trung hoặc cấu trúc thị trường phân khúc. Cụ thể là, bằng cách tạo điều kiện dễ dàng trong việc tìm giá cả, sự minh bạch có thể giải quyết nhiều vấn đề không hiệu quả trong việc định giá (Pricing inefficiency) vốn bị gây ra bởi sự phân khúc của thị trường nhưng vẫn cho phép sự cạnh tranh giữa những thị trường giao dịch chứng khoán có thể thay thế được. Trong những giai đoạn đầu khi thị trường chứng khoán mới xuất hiện thì thị trường chứng khoán của một quốc gia có thể hoạt động độc lập và tách biệt với các thị trường chứng khoán khác trên thế giới. Trong vòng hai thập niên trở lại đây, các thị trường chứng khoán trên thế giới đã ngày càng liên kết nhiều hơn; hiện nay các nhà quản lý và các nhà đầu tư tổ chức thường theo dõi các thị trường khác trên thế giới để tìm ra những cơ hội đầu tư.
Vấn đề quan trọng nhất là một số lượng lớn (và ngày càng tăng) các loại chứng khoán không chỉ giao dịch trên thị trường trong nước. Vì vậy, hiện nay nhiều thị trường cạnh tranh để có được sự giao dịch của những loại cổ phiếu chính.4 Các tiêu chí đánh giá minh bạch thông tin Vishwanath và Kaufmann (2001) đã đưa ra các thuộc tính của minh bạch thông tin, bao gồm: tiếp cận, tính toàn diện, tính liên quan, chất lượng và sự đáng tin cậy. + Tính tiếp cận: thông tin phải sẵn có để cung cấp cho tất cả những người có quan tâm và phải được tiếp cận dễ dàng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Thông tin cần được tiếp cận một cách công bằng với tất cả mọi người.
Việc trì hoãn hay giới hạn việc tiếp cận thông tin đều ảnh hưởng xấu đến minh bạch, đến 8 việc diễn giải và sử dụng thông tin của một cá nhân. Điều này thường đem lại lợi ích cho một số người khi người có thông tin muốn trục lợi bằng cách bán thông tin cho người muốn tiếp cận thông tin. + Tính toàn diện: thông tin phải được cung cấp đầy đủ, hoàn chỉnh. + Tính liên quan: thông tin phải đảm bảo tính liên quan.
Chắc chắn đây là một việc khó khăn. Thứ nhất, bởi vì thông tin mang tính chủ quan; người gửi tiền cần thông tin để đảm bảo tiền gửi của họ là an toàn; nhà đầu tư cần thông tin về khoản nợ và rủi ro; và công chúng cần biết về tình hình kinh tế hiện tại, chính sách tiền tệ của quốc gia… Thứ hai, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin dẫn đến sự tràn ngập thông tin, lại dẫn đến một nghịch lý là chính sự quá tải thông tin có nguy cơ làm loãng đi tính liên quan của thông tin. + Chất lượng và sự đáng tin cậy: thông tin phải có chất lượng và đáng tin cậy, kịp thời, đầy đủ, không thiên vị, nhất quán và được trình bày trong những thuật ngữ rõ ràng và đơn giản. Những chuẩn mực đối với chất lượng thông tin phải được đảm bảo, có thể thẩm tra bởi những tổ chức trung gian hoặc kiểm toán bên ngoài hoặc những tổ chức tạo lập chuẩn mực.5 Cách đo lường minh bạch thông tin Để đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính của một doanh nghiệp cần thiết phải có một thước đo thống kê thể hiện được sự chính xác và đầy đủ của các thông tin được công bố.