Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và bố cục bài nghiên cứu. Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trên thế giới Trong chương này, tác giả đi vào trình bày khung lý thuyết về cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty. Đồng thời, tác giả cũng tổng hợp lại các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trên thế giới.
Đây chính là cơ sở để tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu, và đưa ra các kỳ vọng nghiên cứu ở chương sau. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Ở chương này, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu; mô tả các biến độc lập và biến phụ thuộc của mô hình, kỳ vọng với từng biến. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu vừa thu được sau khi chạy mô hình hồi quy. Các kết quả này là hết sức quan trọng, đưa ra bằng chứng để đi đến kết luận ở chương sau, giúp đạt được mục tiêu của bài nghiên cứu. Chương 5: Kết luận. Trong chương này, tác giả đưa ra kết luận của bài nghiên cứu dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất các hướng nghiên cứu xa hơn.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 2.1 Khung lý thuyết liên quan đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty Khung lý thuyết về cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới xây dựng qua nhiều năm, bao gồm lý thuyết về chi phí đại diện, lý thuyết bất cân xứng thông tin và lý thuyết về sự phù hợp.1 Lý thuyết về chi phí đại diện (The Agency Cost Theory) Lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976) đề cập tới mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là chủ sở hữu công ty và một bên là nhà quản trị - người đại diện được chủ sở hữu ủy quyền ra quyết định thay cho mình với các vấn đề của công ty. Do sự mâu thuẫn giữa lợi ích của hai chủ thể, người đại diện sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích của người chủ sở hữu, làm phát sinh chi phí đại diện. Chi phí đại diện được lượng hóa bằng tổng của chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và mất mát phụ trội. Chi phí giám sát (The monitoring cost) là chi phí bỏ ra để giám sát hành vi của người đại diện.
Chi phí ràng buộc (The bongding cost) để chắc chắn người chủ sở hữu sẽ được bồi thường trong trường hợp người đại diện thực hiện một số hành động nhất định làm tổn hại đến lợi ích của chủ sở hữu. Mất mát phụ trội (The residual cost) liên quan đến sự mất mát tài sản mà người chủ sở hữu phải gánh chịu do mâu thuẫn về lợi ích nêu trên. Bên cạnh mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và nhà quản lý, còn tồn tại mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và chủ nợ. Chủ sở hữu công ty có thể thích các dự án rủi ro hứa hẹn mang lại một tỷ suất sinh lợi cao hơn, trong khi các chủ nợ chỉ được hưởng lãi suất cho vay và phải gánh chịu rủi ro khi dự án thất bại sẽ thích các dự án mang tính an toàn, ít rủi ro hơn.
Myers (1977) đã phát triển nghiên cứu xung quanh mâu thuẫn này. Myers (1977) cho thấy trong trường hợp đi vay có rủi ro, công ty có thể từ bỏ các dự án có NPV dương làm tăng giá trị cho công ty vì giá trị gia tăng sẽ tích lũy cho các chủ nợ. Myers (1977) chính thức kiểm tra một công ty mà nợ hiện tại hoàn toàn được tài trợ bởi một cơ hội tăng trưởng: đi vay để tài trợ cho một dự án trong tương lai. Giá trị thị trường của dự án phải vượt quá chi phí của dự án và các khoản thanh toán cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 các chủ nợ.
Trong trường hợp không có thuế, nếu thanh toán nợ đủ cao thì giá trị thị trường sẽ luôn thấp hơn (chi phí của dự án + các khoản thanh toán cho chủ nợ) và giá trị công ty sẽ bằng không. Điều này tạo ra một tình huống khi mà NPV dương nhưng công ty sẽ không thực hiện dự án vì lợi ích của dự án bị chia tách hoặc thậm chí trái ngược hoàn toàn, giữa các cổ đông và chủ nợ. Myers cho thấy kỳ hạn nợ có thể làm giảm động cơ đầu tư. Nếu nợ đáo hạn trước khi quyết định đầu tư, công ty không có nợ sẽ hành động giống như một công ty vốn chủ sở hữu trong việc quyết định đầu tư.
Myers (1977) cho rằng các công ty có chi phí đại diện càng lớn thì càng nên sử dụng nhiều nợ ngắn hạn và xây dựng cấu trúc kỳ hạn nợ tương xứng với cấu trúc tài sản để giảm bớt chi phí đại diện. Gần đây, Diamond & He (2014) đã mở rộng mô hình Myers (1977), cho thấy nợ ngắn hạn làm giảm động cơ thôi đầu tư vào đầu tư ngay lập tức vì nó ít nhạy cảm hơn với giá trị công ty và do đó nhận được lợi ích nhỏ hơn từ khoản đầu tư mới. Tuy nhiên, nợ dài hạn có thể làm giảm vấn đề thôi đầu tư tùy thuộc vào sự biến động của tài sản trong tương lai. Lý thuyết về chi phí đại diện được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới vận dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc kỳ hạn nợ tại các công ty của các quốc gia có nền kinh tế phát triển như nghiên cứu của Barnea, Haugen và Senbet (1980), Barclay và Smith (1995), Ozkan (2000), Teruel và Solano (2007) hay các nước có nền kinh tế đang phát triển như Oluseun Paseda (2017),.
Trong những nghiên cứu này, lý thuyết chi phí đại diện được thể hiện bởi 3 yếu tố: tính đáo hạn của tài sản, quy mô công ty, cơ hội tăng trưởng. Tùy từng bối cảnh kinh tế của từng quốc gia, mà kết quả nghiên cứu cũng khác nhau.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information Theory) Bất cân xứng thông tin xảy ra khi mức độ nắm giữ thông tin của các bên tham gia giao dịch không ngang nhau, là tình trạng mà một bên có đầy đủ thông tin hơn và tốt hơn bên còn lại. Tình trạng này tồn tại ở mọi lĩnh vực trên thị trường, bao gồm bất động sản, chứng khoán, hàng hóa, đầu tư… Trong bài nghiên cứu “The Market for “Lemon”: Quanlity Uncertainty and the Market Mechainism”, lý thuyết bất cân xứng thông tin lần đầu tiên được đề cập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 bởi Akerlof vào năm 1970, sau đó được sự bổ sung của nhiều tác giả như Spense (1973) với “Job Market Signaling”, Flannery (1986), Diamond (1991)… Lý thuyết này dần khẳng định tầm quan trọng của mình và trở thành trọng tâm trong các nghiên cứu kinh tế học. Đặc biệt trong nền kinh tế của các nước chưa phát triển, nơi mà tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin còn yếu kém và chưa phổ biến rộng rãi.
Bất cân xứng thông tin gây ra hậu quả như lựa chọn ngược không chính xác và bất lợi xảy ra trên thị trường mà người bán hoặc người mua biết rõ thông tin hơn bên còn lại về tính chất của sản phẩm đầu tư. Mặt khác, rủi ro đạo đức cũng xảy ra khi các cá nhân, tổ chức cố tình gian dối, không trung thực… Trong bài nghiên cứu “Asymmetric information and risky debt maturity choice”, Flannery (1986) đã sử dụng mô hình nghiên cứu liên quan đến sự lựa chọn cấu trúc kỳ hạn nợ trong tình trạng bất cân xứng thông tin để đánh giá mức độ mà việc lựa chọn kì hạn nợ có thể báo hiệu về chất lượng nội bộ của công ty. Flannery (1986) lập luận rằng nếu thị trường không thể phân biệt giữa doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp xấu, thì doanh nghiệp tốt có thể lựa chọn phát hành nợ ngắn hạn để báo hiệu về chất lượng công ty của họ bởi chỉ có công ty tốt mới trả được chi phí giao dịch cao khi tái đầu tư nợ ngắn hạn. Việc thông báo chất lượng là cần thiết do có sự bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư bên trong và nhà đầu tư bên ngoài.
Nhà đầu tư bên ngoài không thể phân biệt được thông tin về chất lượng công ty, vì đây là vấn đề riêng mỗi công ty và cũng không được công bố rộng rãi trên thị trường. Như vậy, nhà đầu tư bên ngoài sẽ nhận định rằng đối với các khoản vay dài hạn, công ty xấu sẽ chấp nhận mức phí giao dịch cao hơn các công ty tốt. Do rủi ro nên các khoản vay dài hạn phải trả mức phí cao hơn. Flannery (1986) cho rằng các nhà đầu tư bên ngoài sẽ quy định mức phí cho khoản vay dài hạn sao cho các khoản lỗ kỳ vọng từ toàn bộ khoản vay dài hạn (gồm công ty tốt và công ty xấu) là bằng không.
Do đó, dựa trên sự nhận thức về chất lượng trung bình của các công ty thì nhà đầu tư bên ngoài đối xử với các công ty là như nhau. Khi đó, công ty xấu trả mức phí thấp hơn khi vay dài hạn, còn công ty tốt sẽ trả mức phí cao hơn. Công ty tốt sẽ bị ảnh hưởng khi vay dài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hạn vì giá trị thị trường của công ty sẽ bị định giá thấp hơn nhiều so với giá trị thật của nó do mức phí cao. Ngược lại giá thị trường của công ty xấu được đẩy lên cao.
Vì thế, theo Flannery (1986), những công ty có chất lượng hoạt động và tín dụng tốt sẽ cân nhắc với những mức phí quá cao khi vay dài hạn, cho nên các công ty tốt sẽ ưu tiên phát hành những công cụ nợ có kỳ hạn ngắn hạn nhằm thực hiện chiến lược vay tốn kém, việc mà các công ty khác không thể thực hiện được, nhằm phát tín hiệu về chất lượng thực sự của công ty ra thị trường. Đồng thời, phát hành nợ ngắn hạn trong hiện tại cho thấy sự tín nhiệm của các công ty tốt về việc các khoản vay nợ để tái cấp vốn trong tương lai sẽ được thị trường định giá tăng lên nhằm phản ảnh chính xác tiềm năng của công ty và công ty sẽ tiếp cận vốn dễ dàng hơn vì có nhiều ưu đãi, phí bảo hiểm rủi ro và lãi suất vay công ty trả sẽ thấp hơn.