CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA SINH VIÊN KHỞI NGHIỆP TẠI TP.HCM Ở chương này, nhóm nghiên cứu sẽ trình bày các khái niệm và lý thuyết liên quan, cũng như nêu lên được những kết quả thực nghiệm của những nghiên cứu trước ở trong và ngoài nước liên quan đến “Khả năng huy động vốn của sinh viên khởi nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của sinh viên khởi nghiệp tại TP. Từ đó, rút ra được mô hình và giả thuyết cho bài nghiên cứu này.1 Các khái niệm chung 1.1 Khái niệm về “Khởi nghiệp” 1.1 “Khởi nghiệp” là gì? Verstraete (1999, 2002, 2003) – một học giả khá nổi bật trong giới nghiên cứu của Pháp về khởi nghiệp đã xây dựng một mô hình lý thuyết khởi nghiệp mới dựa trên khái niệm “Sự thúc đẩy hình thành tổ chức” (organisation impulsé). Theo tác giả, khởi nghiệp được nhìn nhận như là một hiện tượng phức tạp theo đó, một tổ chức kinh doanh mới được thúc đẩy hình thành bởi doanh nhân – người hành động để cụ thể hoá ý tưởng, tầm nhìn và các định hình về doanh nghiệp mà họ mong muốn. Khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất.
(Đức Thiện, 2021) Theo chuyên mục Khởi nghiệp của Báo Diễn đàn doanh nghiệp (2020) thì quan niệm của xã hội, khởi nghiệp là khi bạn có ý tưởng kinh doanh riêng và bắt tay vào thành lập cho mình một doanh nghiệp. Bạn chính là người trực tiếp quản lý việc điều phối và kinh doanh của doanh nghiệp hoặc cũng có thể quản lý với tư cách là Co-Founder (người đồng sáng lập). Tuy nhiên, Nguyễn Ngọc (2020) cho rằng: “Khởi nghiệp là từ dùng để chỉ việc ấp ủ, lên ý tưởng cho một công việc kinh doanh riêng và từng bước thực hiện nó. Nói 6 đến khởi nghiệp, người ta thường nghĩ đến việc ai đó sẽ thành lập một doanh nghiệp riêng của họ – ở đó họ là người sáng lập, người đứng đầu và quản lý mọi công việc lớn nhỏ hoặc đồng sáng lập”.
Khởi nghiệp cũng có thể hiểu là việc ai đó cung cấp cho thị trường những sản phẩm/dịch vụ mới chưa từng xuất hiện hoặc kinh doanh những sản phẩm đã có mặt trên thị trường nhưng được “biến tấu” theo cách riêng của người đó. Tóm lại khởi nghiệp theo định nghĩa đơn giản đối với tất cả mọi người hiểu là một người có ý tưởng kinh doanh gì đó, muốn tự làm chủ và không phải đi làm thuê cho doanh nghiệp hay công ty nào đó. Khi họ tự mình bắt đầu kinh doanh thì có thể gọi là khởi nghiệp. Dù hiểu theo cách nào thì chúng ta đều không thể phủ nhận rằng việc khởi nghiệp mang lại nhiều lợi ích cho bản thân người khởi nghiệp cũng như toàn xã hội.
Khởi nghiệp cũng góp phần giảm áp lực lên nền kinh tế, trợ cấp xã hội, đưa đất nước ngày càng phát triển.2 Sự khác nhau giữa “Entrepreneur” và “Startup” Entrepreneur và startup là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau. Hai khái niệm này thể hiện sự khác biệt như sau: + Entrepreneur được hiểu là là tạo dựng sự nghiệp riêng của mình, là một cá nhân tìm kiếm những cơ hội kinh doanh từ những thứ đã có và tạo ra cách để chuyển việc kinh doanh ấy thành lợi nhuận tạo dựng sự nghiệp riêng của mình. (CLB Sinh viên Khởi nghiệp thuộc Đại học Kinh tế TP. + Startup được hiểu là doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, là “loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng dựa trên khai thác trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới, và có thời gian hoạt động không quá 5 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu” (Đề án 844, 2016).
7 Theo Đồng Giám đốc điều hành của Warby Parky - Neil Blumenthal nói trên tạp chí Forbes (2014): “A startup is a company working to solve a problem where the solution is not obvious and success is not guaranteed.” (Tạm dịch: Startup là một công ty hoạt động để giải quyết những vấn đề mà có giải pháp không chắc chắn và không đảm bảo thành công.) Còn theo Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses” - cuốn cẩm nang hướng dẫn nổi tiếng trong lĩnh vực startup thì cho rằng: “A startup is a human institution designed to create new products and services under conditions of extreme uncertainty” (Tạm dịch: Một startup là một thể chế con người được tạo nên để sáng tạo những sản phẩm và dịch vụ mới dưới điều kiện cực kỳ không chắc chắn). Như vậy nghĩa là bản chất của hai khái niệm này là khác nhau. Khởi nghiệp có thể dùng cho tất cả mọi người còn startup hay được dùng cho các công ty khi tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ nào đó không chắc chắn thành công.2 Khái niệm về “Vốn khởi nghiệp” 1.1 “Vốn khởi nghiệp” là gì? “Vốn khởi nghiệp” trong tiếng Anh là “Startup Capital” đây là khoản đầu tư tài chính cho việc phát triển một công ty hoặc sản phẩm mới. Vốn khởi nghiệp có thể được cung cấp bởi các nhà đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần hoặc các ngân hàng truyền thống.
Trong mọi trường hợp, người mong muốn nhận được vốn khởi nghiệp thường phải có một kế hoạch kinh doanh vững chắc hoặc sản phẩm mẫu. Vốn khởi nghiệp được sử dụng để thanh toán cho bất kì hoặc mọi chi phí cần thiết để tạo ra một doanh nghiệp mới, bao gồm tiền thuê nhân viên mới, thuê không gian văn phòng, giấy phép, hàng tồn kho, nghiên cứu và thử nghiệm thị trường, sản xuất sản phẩm, tiếp thị… 8 Trong nhiều trường hợp, cần nhiều hơn một vòng đầu tư vốn khởi nghiệp để có được một công ty khởi nghiệp thành công.2 Các loại vốn khởi nghiệp Tùy theo những tiêu thức mà vốn được phân chia theo nhiều loại khác nhau: Theo nguồn hình thành: Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu chi phối và định đoạt. Nó có thể hình thành do nhà nước cấp, do doanh nghiệp bỏ ra hoặc do góp vốn cổ phần, bổ sung từ lợi nhuận để lại. Là nguồn vốn được hình thành từ một hoặc nhiều chủ sở hữu vốn của doanh nghiệp.
Đây là loại vốn hình thành từ đầu và được bổ sung thêm trong quá trình phát triển. Nợ phải trả: là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải thanh toán tại một thời điểm nào đó cho các chủ sở hữu khác. Hình thành từ các nguồn vay khác nhau như các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tổ chức tài chính tín dụng, tài sản chờ xử lý, các khoảng tạm sử dụng chưa thanh toán. Theo phương thức chu chuyển: Vốn cố định: là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ.
Đặc điểm của loại vốn này là nó luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của tài sản ngắn hạn nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thường xuyên liên tục. Trong quá trình kinh doanh, vốn lưu động sẽ được thu hồi toàn bộ sau khi doanh nghiệp thu được tiền bán hàng. Theo thời gian huy động vốn: Nguồn vốn thường xuyên: Bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn.
Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng, 9 thường được sử dụng để mua sắm trang thiết bị, nhà xưởng…đầu tư vào TSCĐ cần thiết cho quá trình hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo phạm vi huy động vốn: Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động từ chính bản thân doanh nghiệp, bao gồm vốn chủ sở hữu, tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận giữ lại, các khoản dự trữ, dự phòng… Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn huy động từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm nguồn vốn liên doanh, liên kết, vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu và các khoản nợ khác… Bên cạnh đó vốn huy động khi khởi nghiệp còn được phân chia theo các giai đoạn: Vốn hạt giống Vốn hạt giống là giai đoạn mà khi các chủ doanh nghiệp khởi nghiệp đã có sản phẩm mẫu hoặc đã bán được vài đơn hàng, lúc này các chủ doanh nghiệp khởi nghiệp rất cần nguồn vốn để phát triển ý tưởng kinh doanh của mình. Đứng sau các vòng gọi vốn này thường là nhà đầu tư thiên thần, các quỹ đầu tư mạo hiểm nhỏ, và quỹ tăng tốc.
Vòng này nếu chỉ nhận vốn từ các nhà đầu tư thiên thần thì có thể gọi là vòng gọi vốn thiên thần (Trang Vietnambiz, 2019). Series A Series A là khi doanh nghiệp khởi nghiệp bắt đầu mở rộng hoạt động hoặc tăng trưởng nhanh (doanh thu và khách hàng đã ổn định ở một mức độ cụ thể), các nhà đầu tư bắt đầu nhìn vào những dữ liệu thực tế để xem xét tiềm năng để dự án có thể tạo ra doanh thu tăng trưởng lâu dài và vững mạnh hay không. 10 Vòng series A thường là sự tham gia của các nhà đầu tư mạo hiểm và các nhà đầu tư thiên thần. Nếu đã có mặt trước đó, nhà đầu tư sẽ xem xét nguồn vốn họ bỏ ra đã được sử dụng như thế nào và liệu lần đầu tư này có tốt cho nguồn quỹ của họ (Trang Vietnambiz, 2019).
Series B Ở vòng series B, doanh nghiệp khởi nghiệp tìm kiếm sự tham gia của các quỹ đầu tư mạo hiểm. Số tiền trong giai đoạn này dùng để xây dựng công ty dựa trên những thành công hiện có, với việc mở rộng đội ngũ, không gian địa lý để khám phá các thị trường mới và nhìn chung là mở rộng về mặt quy mô. Các nhà đầu tư thường chọn lựa kỹ lưỡng để tạo bước nhảy vọt cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Các quyết định mua lại có thể bắt đầu được đặt trong thời gian này (Trang Vietnambiz, 2019).
Series C Nếu đi đến vòng này, doanh nghiệp khởi nghiệp thực sự đã bước đến thời điểm quan trọng, bắt đầu tìm cách chiếm lĩnh thị trường và giành thị phần. Từ thời điểm này, doanh nghiệp khởi nghiệp có thể bước vào một cuộc chạy nước rút, gia tăng thị phần và vị trí trên thị trường. Cũng có khả năng lớn là doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ nhận được những lời đề nghị mua lại mang tính chiến lược.