CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 1. Quan điểm về hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Lê Thị Xuân (biên soạn, 2018) cho rằng HQTC của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp có thể nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để đạt được lợi ích kinh tế đó. HQTC còn phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để tối đa hóa lợi nhuận trong khi đó tối thiểu hóa chi phí.
Theo đó, muốn đạt được một HQTC cao thì doanh nghiệp cần phải tối đa hóa được các kết quả yếu tố đầu ra trên cơ sở những nguồn lực hạn chế vốn có của doanh nghiệp. Nhìn chung, mặc dù CTCK là một tổ chức tài chính trung gian có mô hình hoạt động đặc thù với sự nhạy cảm cao với tình hình kinh tế-chính trị nhưng những quan điểm về HQTC của các CTCK vẫn có nét tương đồng và dựa trên quan điểm về HQTC của doanh nghiệp nói chung. Tuy nhiên, chính tính đặc thù về mặt tổ chức của CTCK khiến xuất hiện một số quan điểm có sự khác biệt nhẹ về HQTC của CTCK. Một số ý kiến cho rằng HQTC của CTCK không chỉ nằm ở hiệu quả kinh tế mà CTCK có thể đạt được mà còn nằm ở hiệu quả xã hội.
Giống như các doanh nghiệp, CTCK cũng xem hiệu quả kinh tế là một trong những mục tiêu hàng đầu của mình. Bên cạnh đó, mỗi một CTCK còn đóng góp chung hiệu quả cho ngành chứng khoán nói riêng và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung. Các CTCK đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các doanh nghiệp thực hiện hoạt động huy động vốn, các CTCK còn làm trung gian cải thiện tính thanh khoản cho thị trường, ngoài ra còn thực hiện các nghiệp vụ tư vấn rộng rãi giúp mở rộng phạm vị khiến cho các nhà đầu tư có hứng thú với ngành chứng khoán có thể dễ dàng tiếp cận về lĩnh vực này hơn. Về khía cạnh kinh tế, sự phát triển lớn mạnh của các CTCK cũng giúp giải quyết những vấn đề về việc làm, giúp tăng cường nguồn nhân lực của quốc gia, khiến cho mức sống của người lao động trong ngành chứng khoán 5 nói riêng được nâng cao đồng thời các CTCK cũng góp một phần lớn vào ngân sách của nhà nước.
Bất cứ một doanh nghiệp nào không riêng gì các CTCK đều cần đảm bảo cả hiệu quả về kinh tế lẫn hiệu quả về xã hội, tuy nhiên sẽ có sự đầu tư, chú trọng về hiệu quả kinh tế hơn. Hiệu quả về kinh tế của một CTCK nằm ở việc so sánh giữa kết quả đầu ra với các chi phí đầu vào mà CTCK phải sử dụng để đạt được kết quả đó. Kết quả đầu ra có thể là phần lợi nhuận hoặc doanh thu mà mỗi công ty đạt được so với đầu vào là nguồn vốn chủ sở hữu, tổng tài sản và chi phí cho các hoạt động kinh doanh. Mặc dù vậy, các CTCK thường không chỉ cung cấp một hay hai nghiệp vụ nhất định mà hầu hết các CTCK trên TTCK Việt Nam hiện nay cung cấp hầu hết các nghiệp vụ kinh doanh như: hoạt động môi giới, hoạt động tự doanh chứng khoán, hoạt động tư vấn tài chính,… Vì vậy, muốn đánh giá được hết hiệu quả kinh tế mà CTCK mang lại thì cần phải đánh giá hiệu quả mà từng hoạt động kinh doanh mang lại.
Mà việc đánh giá hiệu quả từng hoạt động ở đây tức là việc đánh giá sự tăng trưởng doanh thu của từng hoạt động, tỷ lệ đóng góp của từng hoạt động vào doanh thu và tỷ lệ chi phí trên doanh thu của mỗi một hoạt động. Chẳng hạn đứng dưới góc nhìn từ hoạt động môi giới, muốn đánh giá hiệu quả hoạt động môi giới tức là đánh giá sự tăng trưởng về doanh thu của hoạt động môi giới, tỷ lệ đóng góp của hoạt động môi giới vào doanh thu và tỷ lệ chi phí môi giới trên doanh thu môi giới. Các CTCK cần phải chú trọng nâng cao chất lượng từng hoạt động này nhằm giúp tăng hiệu quả kinh tế, từ đó nâng cao HQTC của công ty. Mặt khác, bất cứ một hoạt động nào đều tiềm ẩn những rủi ro nhất định, những rủi ro tài chính như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản,.
luôn chực chờ trong mỗi nghiệp vụ mà các CTCK cung cấp. Việc quản trị sao cho tốt những rủi ro này cũng là việc vô cùng quan trọng và là một thách thức đối với các CTCK. Bởi lẽ dù một CTCK đạt được HQTC cao nhưng bên cạnh đó rủi ro tài chính cũng cao tức là mức độ an toàn của công ty về mặt tài chính thấp thì cũng không thể đạt được sự phát triển bền vững trên TTCK VN. Nhất là khi ngành chứng khoán rất nhạy cảm đối với tin tức.
Bởi lẽ đó, muốn nghiên cứu về HQTC của các CTCK thì cũng vẫn cần đặt trong mối quan hệ với an toàn tài chính. Các nhà quản trị của CTCK luôn mong muốn tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí từ đó đạt được hiệu quả tài chính là tốt nhất, 6 từ đó giúp cho công ty có thể nâng cao uy tín và địa vị của mình trong mắt các nhà đầu tư nói riêng cũng như toàn bộ TTCK nói chung. Tác giả cho rằng việc đó là không hề khó hiểu nhưng cái khó là việc phải luôn chú ý đi kèm việc quản trị tốt được rủi ro cho các hoạt động của mình. Việc đạt được một HQTC tốt đi kèm với xây dựng được một bức tường vững chãi về quản trị rủi ro sẽ khiến cho các CTCK có thể tiến xa hơn, phát triển bền vững hơn trong lĩnh vực này.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của CTCK 1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của CTCK Lê Thị Xuân (biên soạn, 2018) cho rằng các chỉ tiêu dưới đây được sử dụng như một thước đo giúp đánh giá về mức lợi nhuận mà CTCK có thể thu được trên một đơn vị chi phí hoặc một đơn vị yếu tố đầu vào, đầu ra phản ánh kết quả kinh doanh của các CTCK. Nó là kết quả phản ánh cho toàn bộ các chính sách và quyết định về hoạt động của các CTCK. - Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) Lợi nhuận sau thuế ROS (%) = x 100% Doanh thu thuần Hệ số này giúp xác định mỗi đồng doanh thu thuần mà CTCK thực hiện trong kỳ giúp thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Hệ số này phản ánh năng lực kiểm soát chi phí của CTCK và các CTCK luôn cố gắng cải thiện bộ máy để giữ hệ số này càng cao càng hiệu quả. - Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Lợi nhuận sau thuế ROA (%) = x 100% Tổng tài sản bình quân Chỉ số này cho biết mỗi đồng vốn đầu tư vào tài sản sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế và lãi vay, qua đó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản hay vốn để kinh doanh của các CTCK. Hệ số này giúp xác định việc sử dụng vốn của công ty đã thực sự hiệu quả hay chưa, việc phân bổ cơ cấu tài sản có đang thực sự hợp lý không. Chỉ số ROA càng cao càng cho thấy năng lực quản trị, sử dụng tài sản của công ty là hiệu quả.
7 - Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Lợi nhuận sau thuế ROE (%) = x 100% Vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ tiêu này giúp nhận biết bình quân một đồng VCSH trong kì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế và lãi vay. Chỉ số này phản ánh toàn bộ trình độ về quản trị của công ty, cụ thể là về cách mà các CTCK kiểm soát doanh thu và chi phí của công ty và cách mà họ quản lý nguồn vốn, quản lý tài sản của mình. Ngoài ra, chỉ số này cũng giúp thể hiện uy tín của công ty trong việc đảm bảo lợi nhuận cho các đối tượng tham gia vào việc góp vốn. Khi chỉ số này càng cao thì càng cho thấy rõ hiệu quả về tiềm lực của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từng hoạt động của các CTCK - Sự tăng trưởng trong doanh thu của từng hoạt động Các CTCK nói chung thực hiện rất nhiều những hoạt động kinh doanh chứng khoán khác nhau như : hoạt động môi giới, hoạt động bảo lãnh và phát hành chứng khoán, hoạt động tự doanh, họat động tư vấn đầu tư, hoạt động tư vấn tài chính, hoạt động kí quỹ và hoạt động khác. Tăng trưởng trong doanh thu là việc tính toán sự tăng trưởng doanh thu của từng hoạt động này với công thức xác định chung như sau: Chênh lệch DT kì này so với kì trước Tăng trưởng DT từng hoạt động = DT từng hoạt động kì trước Chỉ tiêu này được dùng để tính toán tỷ lệ mức chênh lệch giữa doanh thu kì này so với kì trước của từng hoạt động để xác định mức tăng doanh thu trong từng hoạt động kinh doanh chứng khoán của các CTCK. Thông qua đó có thể giúp xác định hoạt động nào đang đóng vài trò giúp phát triển và tăng trưởng doanh thu. Ngược lại cũng giúp xác định hoạt động nào đang giảm sút và kéo doanh thu đi xuống.
Sau khi xác định được các yếu tố trên, các CTCK sẽ đưa ra quyết định nhằm cơ cấu lại thị phần, xác định đúng vị thế của các hoạt động kinh doanh nhằm tối đa hóa doanh thu. Các CTCK sẽ tăng cường phát huy những hoạt động đang đóng vai trò là thế mạnh giúp công ty có sự vượt trội về doanh thu và đồng thời củng cố, xem xét lại để cải thiện và thúc đẩy những hoạt động còn chưa đạt kết quả tốt nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng là đạt được một hiệu quả tài chính tốt. 8 - Mức độ đóng góp của từng hoạt động vào tổng doanh thu Mức độ đóng góp vào tổng doanh thu của từng hoạt động bao gồm mức độ đóng góp của mỗi một hoạt động trong các hoạt động kinh doanh mà công ty chứng khoán cung cấp.