Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Tổng quan lý thuyết 2. Lý thuyết thị trường hiệu quả Tài chính truyền thống là một khối kiến thức được xây dựng dựa trên trụ cột của các nguyên lý về chênh lệch giá của Modigliani và Miller, các nguyên lý danh mục đầu tư của Markowitz, lý thuyết định giá tài sản vốn của Sharpe, Lintner và lý thuyết định giá hợp đồng chọn của Black, Scholes và Merton (Statman, 1999). Theo lý thuyết thị trường hiệu quả thì giá cả trên thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán, phản ánh mọi thông tin đã biết và giá có thể được xem như một đánh giá tối ưu về giá trị đầu tư thực ở mọi thời điểm.
Lý thuyết thị trường hiệu quả được đặt cơ sở trên quan điểm của con người hành động hợp lý, tối đa hóa lợi ích mong đợi một cách chính xác và xử lý tất cả những thông tin có sẵn (Shiller, 1998). Lý thuyết tài chính hành vi Tài chính hành vi là một mô hình mới của tài chính, nhằm bổ sung cho những lý thuyết truyền thống bằng cách đưa ra những khía cạnh thuộc hành vi đối với quá trình ra quyết định. Trái với phương pháp tiếp cận của Markowitz và Sharpe, tài chính hành vi đề cập đến những cá nhân, cách thu thập và sử dụng thông tin. Tài chính hành vi tìm hiểu và dự báo những hệ quả của quá trình ra quyết định thuộc tâm lý học trên thị trường tài chính có hệ thống.
Ngoài ra, nó còn tập trung vào việc ứng dụng các nguyên lý tâm lý học và kinh tế để nâng cao việc ra quyết định thuộc lĩnh vực tài chính (Olsen, 1998). Hai khối hợp nhất của tài chính hành vi là tâm lý học nhận thức (Người ta suy nghĩ như thế nào) và giới hạn kinh doanh chênh lệch giá (Khi thị trường không hiệu quả) (Ritter, 2003, p1). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- Theo lý thuyết tài chính hành vi, các nhà đầu tư được nhận thấy là phản ứng không hợp lý đối với những thông tin mới quá tự tin và thay đổi lựa chọn của họ khi căn cứ vào những thay đổi nông cạn trong bản thuyết trình thông tin đầu tư (Olsen, 1998). Nhiều lý thuyết cơ bản về tài chính hành vi liên quan tới một loạt quan điểm mới dưới tiêu đề chung là ‘’Tính hợp lý bị chặn’’, một thuật ngữ với Simon (1972).
Nó liên quan tới những giới hạn nhận thức khi ra quyết định. Như một kết quả, hành vi con người được thực hiện trên cơ sở của những phương pháp được đơn giản hóa hay sự tự nghiệm (Tversky and Kahneman, 1974). Điều này phù hợp với nghiên cứu được thực hiện bởi Slovic (1972) về hành vi chịu rủi ro đầu tư. Người ta cũng có khuynh hướng phản ứng quá mức đối với những thông tin không mong đợi và gây ấn tượng mạnh (De Bondt and Thaler, 1985).
Các nghiên cứu trước về yếu tố hành vi trong TTCK Theo Ahmed và cộng sự (2011), ‘’Tài chính hành vi: Hình thành những quyết định của các nhà đầu tư nhỏ trên thị trường chứng khoán Lahore’’, nghiên cứu khảo sát 300 nhà đầu tư được chọn lựa ngẫu nhiên đang giao dịch trên thị trường chứng khoán Lahore bằng bảng câu hỏi khảo sát. Các yếu tố về hành vi trong nghiên cứu này tác động đến quyết định nhà đầu tư bao gồm: Sự hợp lý, hiệu ứng tâm lý, sự hối tiếc, tự nghiệm tình huống điển hình và tự nghiệm sẵn có. Theo Chin (2012), ‘’Những khuynh hướng tâm lý và hành vi của nhà đầu tư: Khảo sát bằng chứng từ thị trường chứng khoán Malaysia’’. Mục đích chính của nghiên cứu này là xác định tâm lý ảnh hưởng đến việc ra quyết định của nhà đầu tư như thế nào.
Bốn khuynh hướng tâm lý là niềm tin, tự tin, hối tiếc, hiệu ứng vết rắn cắn (Snake bite effect) và sự tác động của chúng lên việc ra quyết định là quan trọng. Nghiên cứu xác nhận rằng các khuynh hướng tâm lý ngăn cản các nhà đầu tư khỏi việc thực hiện các quyết định ‘’hợp lý’’. Theo Hải Lý và Phương Thảo (2012), ‘’Ảnh hưởng yếu tố tâm lý lên mục tiêu của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam’’, nghiên cứu này xem xét bốn yếu tố tâm lý của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- Nam đó là quá tự tin, quá lạc quan, thái độ đối với rủi ro và tâm lý bầy đàn. Các yếu tố trên được xem xét thông qua kết quả khảo sát 251 nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán.
Nghiên cứu đã chỉ ra được ba trong bốn yếu tố là quá lạc quan, thái độ rủi ro và tâm lý bầy đàn tác động có ý nghĩa thống kê lên mục tiêu của nhà đầu tư. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đầu tư trong thị trường chứng khoán Có khá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đầu tư liên quan đến giao dịch cổ phiếu. Cụ thể như mục tiêu đầu tư, lợi nhuận kỳ vọng, mức độ chịu rủi ro, sự lựa chọn cổ phiếu, thái độ ra quyết định mua, quyết định bán, khối lượng giao dịch, tần suất giao dịch, yếu tố tâm lý, yếu tố cơ bản, phân tích kỹ thuật, yếu tố vĩ mô, khối lượng giao dịch …Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chỉ tập trung vào các yếu tố Chọn lựa thị trường, Chọn lựa chiến lược, Yếu tố cơ bản, Phân tích kỹ thuật, Yếu tố vĩ mô có tác động đến hành vi đầu tư. Chọn lựa thị trường (CLTT) Điểm then chốt trong việc lựa chọn hành vi đầu tư, sự lựa chọn thị trường đầu tư mà không chú ý đến mối tương quan giữa rủi ro và lợi nhuận, đó là chọn lựa các mục tiêu đầu tư với các công ty có uy tín tốt, quy mô công ty lớn, cổ tức cao, lợi nhuận cao.
Tuy nhiên lợi nhuận cao thường đến với rủi ro cao. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng của nhà đầu tư là lựa chọn những khoản đầu tư cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận (Peng and Yu-Jan, 2003). Chọn lựa chiến lược (CLCL) Theo Kotler (1976), chiến lược là việc thiết kế một bức tranh tổng thể cho các công ty nhằm đạt chiến lược đã định với các kế hoạch hành động thích hợp cho bộ phận tiếp thị, bộ phận tài chính, bộ phận sản xuất. Burnie và Ridder (2010) cho thấy các nhà đầu tư sử dụng các chiến lược đầu tư thụ động đơn giản vì vậy không tin vào việc chọn đúng thời điểm thị trường hoặc mong chờ đánh cược vốn hiện có để giành lợi nhuận trong tương lai.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- Chọn lựa chiến lược trong nghiên cứu này là lợi nhuận kỳ vọng của chiến lược ngắn hạn có thời gian đầu tư dưới 3 tháng, trung hạn có thời gian đầu tư từ 3 tháng đến 1 năm và dài hạn có thời gian đầu tư trên 1 năm cũng như mối liên quan giữa chọn lựa chiến lược và hành vi đầu tư. Yếu tố cơ bản (YTCB) ‘’Phân tích cổ phiếu’’ bởi Graham và Dodd (1934) được sử dụng để quyết định giá trị nội tại của cổ phiếu dựa trên việc nghiên cứu những yếu tố về tình hình kinh tế, xu hướng ngành kinh doanh và doanh số bán hàng của công ty. Nó tập trung phân tích dài hạn, được xem như phân tích cơ bản. Phân tích cơ bản là phương pháp phân tích cổ phiếu dựa vào các nhân tố mang tính chất nền tảng có tác động hoặc dẫn tới sự thay đổi giá cả của cổ phiếu nhằm chỉ ra giá trị nội tại (intrinsic value) của cổ phiếu trên thị trường.
Các nhân tố cơ bản cần nghiên cứu bao gồm: phân tích thông tin cơ bản về công ty; phân tích báo cáo tài chính của công ty; phân tích hoạt động kinh doanh của công ty; phân tích ngành mà công ty đang hoạt động ảnh hưởng chung đến giá cả cổ phiếu. Sau khi nghiên cứu, nhà phân tích có nhiệm vụ phải chỉ ra dự đoán cho những chỉ tiêu quan trọng như thu nhập kỳ vọng, giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu, giá trị hợp lý của cổ phiếu, các đánh giá quan trọng cũng như khuyến nghị mua/bán cổ phiếu trên thị trường. Cụ thể, các nhân tố cần chú trọng trong phân tích cơ bản về cổ phiếu là: Hoạt động kinh doanh của công ty Mục tiêu và nhiệm vụ của công ty Khả năng lợi nhuận ( hiện tại và ước đoán ) Nhu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ của công ty Sức ép cạnh tranh và chính sách giá cả Kết quả sản xuất kinh doanh theo thời gian Kết quả sản xuất kinh doanh so sánh với công ty tương tự và với thị trường Vị thế trong ngành Chất lượng quản lý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân tích kỹ thuật (PTKT) Phân tích kỹ thuật là một phương pháp được các nhà đầu tư coi trọng và sử dụng để giúp nhà đầu tư xác định thời điểm mua – bán và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý trong ngắn hạn.
Phân tích kỹ thuật nhằm chỉ ra tình trạng “sức khỏe” hiện tại của thị trường hay của mỗi chứng khoán để dự báo biến động của giá bằng cách dựa trên những hình mẫu kỹ thuật đã xuất hiện trong quá khứ và áp dụng lại khi có mô hình tương tự xuất hiện. Các công cụ cơ bản được sử dụng trong quá trình Phân tích kỹ thuật là các loại biểu đồ, đường xu thế, kênh xu thế, giải giao dịch - mức hỗ trợ và kháng cự, các mô hình. Phân tích và dự đoán sự di chuyển của giá trong các thị trường tài chính dựa trên các biểu đồ hình nến (Candlestick Chart). Một số lý thuyết về phân tích kỹ thuật nổi tiếng thường được các nhà đầu tư quan tâm là lý thuyết Dow, lý thuyết Wave, RSI, KD, MA, MACD và OBV… 2.
Yếu tố vĩ mô (YTVM) Có rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống về sự chuyển động giá cổ phiếu. Rủi ro không hệ thống bắt nguồn từ một phần của tài sản cá nhân, có thể loại trừ bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư. Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết chứng khoán. Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói chung như GDP sụt giảm, lãi suất biến động, tốc độ lạm phát thay đổi.
là những ví dụ về rủi ro hệ thống, những biến đổi này tác động đến sự dao động giá của các chứng khoán trên thị trường.