Tiểu luận thảo luận nhóm tmu những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Tiểu luận thảo luận nhóm tmu những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

thảo luận học phần

2022

52
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp dệt may

Đổi mới công nghệ là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam. Ngành dệt may đóng góp lớn vào nền kinh tế, chiếm khoảng 12-16% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp dệt may gặp khó khăn trong việc đầu tư vào công nghệ mới. Theo nghiên cứu, chỉ khoảng 52% doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ, trong đó đổi mới quy trình chiếm ưu thế hơn so với đổi mới sản phẩm. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện khả năng đổi mới công nghệ để nâng cao tính cạnh tranh và phát triển bền vững. Như Joseph Schumpeter đã chỉ ra, đổi mới là yếu tố cốt lõi giúp doanh nghiệp phát triển và thích ứng với môi trường cạnh tranh.

1.1. Khái niệm đổi mới công nghệ

Đổi mới công nghệ được hiểu là quá trình áp dụng các ý tưởng sáng tạo để cải tiến sản phẩm và quy trình sản xuất. Theo OECD, đổi mới công nghệ bao gồm đổi mới sản phẩm và quy trình, nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Đặc biệt, trong ngành dệt may, việc áp dụng công nghệ mới không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tối ưu hóa quy trình sản xuất. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gia tăng.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp dệt may. Các yếu tố bên trong như nguồn vốn đầu tư, năng lực quản lý và trình độ công nghệ hiện tại đóng vai trò quan trọng. Nguồn vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ lệ lớn trong việc đầu tư cho đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, các yếu tố bên ngoài như sự hợp tác với các tổ chức nghiên cứu và trường đại học cũng ảnh hưởng đến khả năng đổi mới. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp vẫn chủ yếu thực hiện đổi mới trong nội bộ mà ít hợp tác với bên ngoài, dẫn đến hạn chế trong việc tiếp cận công nghệ tiên tiến.

II. Thực trạng đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp dệt may niêm yết

Thực trạng đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp dệt may niêm yết cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các vùng kinh tế. Theo số liệu khảo sát, tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đổi mới quy trình cao hơn so với đổi mới sản phẩm. Điều này phản ánh sự ưu tiên trong việc cải tiến quy trình sản xuất để giảm chi phí và nâng cao hiệu quả. Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đồng thời cả hai hình thức đổi mới vẫn còn thấp. Điều này cho thấy cần có những chính sách hỗ trợ từ nhà nước để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới công nghệ.

2.1. Tình hình thực hiện đổi mới công nghệ

Theo khảo sát, có khoảng 52% doanh nghiệp dệt may thực hiện đổi mới công nghệ, trong đó đổi mới quy trình chiếm ưu thế. Các doanh nghiệp ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có tỷ lệ đổi mới cao nhất. Điều này cho thấy sự khác biệt trong khả năng tiếp cận công nghệ và nguồn lực giữa các vùng. Việc nâng cao năng lực đổi mới công nghệ là cần thiết để các doanh nghiệp có thể cạnh tranh hiệu quả hơn trên thị trường quốc tế.

2.2. Các thách thức trong đổi mới công nghệ

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng các doanh nghiệp dệt may vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc đổi mới công nghệ. Thiếu hụt nguồn vốn đầu tư và sự hợp tác với các tổ chức nghiên cứu là những vấn đề lớn. Hơn 80% doanh nghiệp thực hiện đổi mới hoàn toàn trong nội bộ mà không hợp tác với bên ngoài. Điều này dẫn đến việc thiếu hụt kiến thức và công nghệ mới, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này, bao gồm việc tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu.

III. Đề xuất giải pháp nâng cao đổi mới công nghệ

Để nâng cao khả năng đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp dệt may niêm yết, cần có một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường nguồn vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ thông qua các chính sách hỗ trợ từ nhà nước. Thứ hai, khuyến khích sự hợp tác giữa doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu, trường đại học để tiếp cận công nghệ mới. Cuối cùng, cần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về tầm quan trọng của đổi mới công nghệ trong việc nâng cao tính cạnh tranh và phát triển bền vững.

3.1. Tăng cường nguồn vốn đầu tư

Việc tăng cường nguồn vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ là rất cần thiết. Nhà nước có thể xem xét các chính sách ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ mới. Đồng thời, cần tạo ra các quỹ hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành dệt may để họ có thể tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn. Điều này sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam.

3.2. Khuyến khích hợp tác nghiên cứu

Khuyến khích sự hợp tác giữa doanh nghiệp dệt may và các tổ chức nghiên cứu là một giải pháp quan trọng. Các doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác với các trường đại học và viện nghiên cứu để tiếp cận công nghệ mới và nâng cao năng lực đổi mới. Sự hợp tác này không chỉ giúp doanh nghiệp cải thiện quy trình sản xuất mà còn tạo ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường.

01/02/2025
Tiểu luận thảo luận nhóm tmu những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI THÍCH CHO ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về sự đổi mới Xuyên suốt lịch sử hình thành, tồn tại khá nhiều khái niệm trong hệ thống lý thuyết đổi mới. Các cuộc khảo sát tài liệu về đổi mới đã tìm thấy nhiều định nghĩa khác nhau.

Lý thuyết đổi mới là nền tảng cho sự ra đời của khái niệm năng lực đổi mới, được hình thành từ những năm 1911 và có một bề dày lịch sử phát triển cho đến nay. Từ thế kỉ XIV ở châu Âu, đã tiếp tục nghiên cứu tìm thêm cái mới mãi cho đến thế kỉ XX đã bắt đầu xuất hiện thêm các nhà văn, nhà khoa học dùng thuật ngữ này để giải thích cho những sự đổi mới công nghệ. Trong thế kỷ 20, khái niệm đổi mới không trở nên phổ biến cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai 1939-1945. Đây là thời điểm mà mọi người bắt đầu nói về đổi mới sản phẩm công nghệ và gắn nó với ý tưởng về tăng trưởng kinh tế và lợi thế cạnh tranh.

Joseph Schumpeter (1883–1950) thường được ghi nhận là người đã làm cho thuật ngữ này trở nên phổ biến - ông đã đóng góp rất nhiều vào việc nghiên cứu kinh tế học đổi mới. Theo Brilman, J (2002, trang 28), “đổi mới là cách thức áp dụng một ý tưởng sáng tạo để giúp doanh nghiệp phát triển và thích ứng nhanh trong môi trường cạnh tranh”. Đến năm 2009, Trong một cuộc khảo sát công nghiệp về cách ngành công nghiệp phần mềm định nghĩa sự đổi mới, định nghĩa sau đây do Crossan và Apaydin đưa ra được coi là hoàn chỉnh nhất, dựa trên định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) : Đổi mới là sản xuất hoặc áp dụng, đồng hóa và khai thác tính mới có giá trị gia tăng trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội; đổi mới và mở rộng sản phẩm, dịch vụ và thị trường; phát triển các phương thức sản xuất mới; và thiết lập các hệ thống quản lý mới. Đó là cả một quá trình và một kết quả.

Theo OECD đổi mới có 4 loại là: - Đổi mới sản phẩm - Đổi mới quy trình 4 - Đổi mới công nghệ - Đổi mới marketing Ở Việt Nam, các nghiên cứu nổi bật về sự đổi mới có tác giả: Nguyễn Thái Sơn (2006), “Quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay”; Hoàng Thị Hòa (2005) “Đổi mới và nâng cao hiệu quả của quan hệ nhà nước với thị trường, phát huy vai trò đoàn thể và các hội”, Ths Nguyễn Thị Lan Hương “Công nghệ tạo đà cho sự đổi mới, sáng tạo trong phát triển Du lịch”. Mức độ cạnh tranh ngày càng tăng trên thế giới đòi hỏi phải sớm đầu tư vào việc phát triển năng lực công nghệ tiên tiến. Việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trở nên cấp thiết để doanh nghiệp có thể nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt là các doanh nghiệp ở Việt Nam. Chính sách đổi mới trong khu vực không chỉ phải hướng tới khả năng cạnh tranh kinh tế mà còn phải thúc đẩy các giải pháp công nghệ mới và bền vững hơn.

Sự đổi mới đột phá thường được kích hoạt bởi công nghệ đột phá. Có thể thấy, phần lớn những nghiên cứu tập trung vào phân tích các lý luận về sự đổi mới chính trị quốc gia, sự đổi mới của doanh nghiệp trong một ngành hay nghiên cứu về các yếu tố nội tại tác động đến sự đổi mới của doanh nghiệp. Những nghiên cứu về sự đổi mới công nghệ 1. Khái niệm công nghệ được hiểu theo nhiều cách và nhiều phương diện khác nhau, trong tài liệu Công nghệ và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ (Bộ KH&CN) có đề cập và đưa ra đến 11 định nghĩa về công nghệ.

Tuy nhiên công nghệ có thế được hiểu như sau: - Công nghệ hiểu là sự ứng dụng các tri thức khoa học vào việc giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn. Đây là cách hiểu của các nhà khoa học. - Công nghệ với cách nhìn khái quát, là một hệ thống quy trình kỹ thuật chế biến vật chất hoặc chế biến thông tin. Khái niệm công nghệ thường được các nhà nghiên cứu trích dẫn theo điểm của Ủy ban Kinh tế - Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) quan trong dự án Technology Atlas Project ": "Công nghệ là hệ thống các kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin".

Hệ thống này bao gồm tất cả các kỹ 5 năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, thông tin, dịch vụ công nghiệp & dịch vụ quản lý. Công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản: - Dạng vật thế (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh.); - Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm.); - Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp.được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu.); - Dạng thiết kế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp. Tại Việt Nam trong Luật Khoa học và Công nghệ (2000) đưa ra khái niệm công nghệ: "công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm". Trong Luật Chuyển giao công nghệ (2006) khái niệm công nghệ được hiểu là: “công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm ".

Trong phạm vi đề tài khái niệm công nghệ được hiểu: là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, các loại công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện, tư liệu sản xuất và các tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ.) dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Bất cứ một công nghệ nào, dù đơn giản cũng phải gồm có bốn thành phần tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đối mong muốn. - Công nghệ hàm chứa trong các vật thể, bao gồm mọi phương tiện vật chất như các trang thiết bị, máy móc, công cụ, phương tiện vận chuyển, nhà xưởng. Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần thiết bị - Technoware (T).

Đây là phần vật chất, phần cứng của công nghệ (hard ware). - Công nghệ hàm chứa trong con người, nó bao gồm mọi năng lực của con người về công nghệ như: kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, kỷ luật, tính sáng tạo.mà các kỹ năng chỉ có thể có được qua đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn. Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần con người của công nghệ - Humanware (H). 6 - Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức có tổ chức được tư liệu hóa như: các lý thuyết, các khái niệm, các phương pháp, các thông số, công thức, các bản vẽ kỹ thuật, bí quyết.Dạng thức này của công nghệ được gọi là Phần thông tin - Inforware (I).

- Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế, tạo nên bộ khung tổ chức của công nghệ, như cơ cấu tổ chức, phạm vi chức năng, trách nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết.Đây là Phần tổ chức của công nghệ - Organware (O). Đổi mới công nghệ. Ở Việt Nam hiện nay trong các văn bản chính thức, ngay cả Luật KH&CN và Luật Chuyển giao công nghệ cũng không đề cập khái niệm này, mặc dù trong Luật có cụm từ “đối mới công nghệ" liên quan đến Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia; Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia. Theo Keith Pavitt (2003)2 quá trình đổi mới là quá trình khám phá ra các cơ hội cho một sản phẩm, dịch vụ hay quá trình mới dựa trên các tiến bộ kỹ thuật hoặc dựa trên sự thay đổi của nhu cầu thị trường hoặc của cả hai yếu tố đó.

Keith Pavitt nhấn mạnh rằng cơ sở cho việc đổi mới là các tiến bộ kỹ thuật và sự thay đổi của nhu cầu thị trường. Điều đó nói lên rằng mục đích của việc đổi mới là tạo ra sản phẩm, dịch vụ hay quá trình đáp ứng sự thay đổi của thị trường. Người ta thường dẫn định nghĩa của OECD (1997) 3 theo một nghĩa rộng: “Đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình (Technological product and process innovations)-TPP là việc thực hiện được sản phẩm và quy trình mới về mặt công nghệ hay đạt được tiến bộ đáng kể về mặt công nghệ đối với sản phẩm và quy trình. Đổi mới TPP được thực hiện nếu đổi mới đó đã được đưa ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong sản xuất (đổi mới quy trình).

Đổi mới TPP gắn với một chuỗi các hoạt động khoa học công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại". Khái niệm mới và được cải tiến cơ bản được OECD mở rộng là mới và được cải tiến đối với DN (không nhất thiết là mới hoặc được cải tiến so với thế giới). Điều này cho phép mở rộng phạm vi phân tích về đổi mới, đặc biệt trong bối cảnh của các nước đang phát triển. 7 Để đổi mới thành công (đưa được sản phẩm mới ra thị trường hoặc quy trình mới được áp dụng trong sản xuất).

Tùy thuộc tính chất, các hoạt động này được phân thành: (1) Thu nạp và tạo ra tri thức phù hợp mới đối với DN - R&D. - Thu nạp công nghệ “tách rời" và bí quyết (asquisition of disembodied technology and know-how) thường được thực hiện dưới dạng mua bán các quyền sở hữu công nghiệp. - Thu nạp công nghệ “gắn kèm" (asquisition of embodied technology) thường gắn với việc mua sắm, thu nạp thiết bị máy móc hàm chứa nội dung công nghệ. (2) Các hoạt động chuẩn bị sản xuất khác - Thiết kế sản xuất (tooling-up and industrial engineering): bố trí mặt bằng sản xuất, chọn thiết bị cho từng công đoạn, chọn giải pháp vận hành nhà máy, quy trình kiểm soát chất lượng, áp dụng tiêu chuẩn để chế tạo sản phẩm mới hoặc sử dụng quy trình mới.

- Thiết kế công nghiệp (industrial design): phương án và bản vẽ quy định quy trình, thông số kỹ thuật và đặc tính vận hành cần thiết cho sản xuất sản phẩm mới hoặc thực hiện quy trình mới. - Thu nạp các tư liệu sản xuất khác như nhà xưởng, máy móc thông thường (không có tiến bộ gì về các đặc tính kỹ thuật) cần thiết cho việc thực hiện đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam" khám phá những yếu tố chính tác động đến quá trình đổi mới công nghệ trong ngành dệt may, một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Tác giả phân tích các yếu tố như chính sách hỗ trợ, nguồn lực tài chính, và sự tham gia của các bên liên quan, từ đó chỉ ra rằng việc đổi mới công nghệ không chỉ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách thức mà các doanh nghiệp có thể tận dụng những yếu tố này để cải thiện hiệu suất và vị thế trên thị trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ xây dựng quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dệt may nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Bài viết này sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức xây dựng quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ, từ đó giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành dệt may nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững.