CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI THÍCH CHO ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về sự đổi mới Xuyên suốt lịch sử hình thành, tồn tại khá nhiều khái niệm trong hệ thống lý thuyết đổi mới. Các cuộc khảo sát tài liệu về đổi mới đã tìm thấy nhiều định nghĩa khác nhau.
Lý thuyết đổi mới là nền tảng cho sự ra đời của khái niệm năng lực đổi mới, được hình thành từ những năm 1911 và có một bề dày lịch sử phát triển cho đến nay. Từ thế kỉ XIV ở châu Âu, đã tiếp tục nghiên cứu tìm thêm cái mới mãi cho đến thế kỉ XX đã bắt đầu xuất hiện thêm các nhà văn, nhà khoa học dùng thuật ngữ này để giải thích cho những sự đổi mới công nghệ. Trong thế kỷ 20, khái niệm đổi mới không trở nên phổ biến cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai 1939-1945. Đây là thời điểm mà mọi người bắt đầu nói về đổi mới sản phẩm công nghệ và gắn nó với ý tưởng về tăng trưởng kinh tế và lợi thế cạnh tranh.
Joseph Schumpeter (1883–1950) thường được ghi nhận là người đã làm cho thuật ngữ này trở nên phổ biến - ông đã đóng góp rất nhiều vào việc nghiên cứu kinh tế học đổi mới. Theo Brilman, J (2002, trang 28), “đổi mới là cách thức áp dụng một ý tưởng sáng tạo để giúp doanh nghiệp phát triển và thích ứng nhanh trong môi trường cạnh tranh”. Đến năm 2009, Trong một cuộc khảo sát công nghiệp về cách ngành công nghiệp phần mềm định nghĩa sự đổi mới, định nghĩa sau đây do Crossan và Apaydin đưa ra được coi là hoàn chỉnh nhất, dựa trên định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) : Đổi mới là sản xuất hoặc áp dụng, đồng hóa và khai thác tính mới có giá trị gia tăng trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội; đổi mới và mở rộng sản phẩm, dịch vụ và thị trường; phát triển các phương thức sản xuất mới; và thiết lập các hệ thống quản lý mới. Đó là cả một quá trình và một kết quả.
Theo OECD đổi mới có 4 loại là: - Đổi mới sản phẩm - Đổi mới quy trình 4 - Đổi mới công nghệ - Đổi mới marketing Ở Việt Nam, các nghiên cứu nổi bật về sự đổi mới có tác giả: Nguyễn Thái Sơn (2006), “Quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay”; Hoàng Thị Hòa (2005) “Đổi mới và nâng cao hiệu quả của quan hệ nhà nước với thị trường, phát huy vai trò đoàn thể và các hội”, Ths Nguyễn Thị Lan Hương “Công nghệ tạo đà cho sự đổi mới, sáng tạo trong phát triển Du lịch”. Mức độ cạnh tranh ngày càng tăng trên thế giới đòi hỏi phải sớm đầu tư vào việc phát triển năng lực công nghệ tiên tiến. Việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trở nên cấp thiết để doanh nghiệp có thể nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt là các doanh nghiệp ở Việt Nam. Chính sách đổi mới trong khu vực không chỉ phải hướng tới khả năng cạnh tranh kinh tế mà còn phải thúc đẩy các giải pháp công nghệ mới và bền vững hơn.
Sự đổi mới đột phá thường được kích hoạt bởi công nghệ đột phá. Có thể thấy, phần lớn những nghiên cứu tập trung vào phân tích các lý luận về sự đổi mới chính trị quốc gia, sự đổi mới của doanh nghiệp trong một ngành hay nghiên cứu về các yếu tố nội tại tác động đến sự đổi mới của doanh nghiệp. Những nghiên cứu về sự đổi mới công nghệ 1. Khái niệm công nghệ được hiểu theo nhiều cách và nhiều phương diện khác nhau, trong tài liệu Công nghệ và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ (Bộ KH&CN) có đề cập và đưa ra đến 11 định nghĩa về công nghệ.
Tuy nhiên công nghệ có thế được hiểu như sau: - Công nghệ hiểu là sự ứng dụng các tri thức khoa học vào việc giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn. Đây là cách hiểu của các nhà khoa học. - Công nghệ với cách nhìn khái quát, là một hệ thống quy trình kỹ thuật chế biến vật chất hoặc chế biến thông tin. Khái niệm công nghệ thường được các nhà nghiên cứu trích dẫn theo điểm của Ủy ban Kinh tế - Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) quan trong dự án Technology Atlas Project ": "Công nghệ là hệ thống các kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin".
Hệ thống này bao gồm tất cả các kỹ 5 năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, thông tin, dịch vụ công nghiệp & dịch vụ quản lý. Công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản: - Dạng vật thế (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh.); - Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm.); - Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp.được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu.); - Dạng thiết kế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp. Tại Việt Nam trong Luật Khoa học và Công nghệ (2000) đưa ra khái niệm công nghệ: "công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm". Trong Luật Chuyển giao công nghệ (2006) khái niệm công nghệ được hiểu là: “công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm ".
Trong phạm vi đề tài khái niệm công nghệ được hiểu: là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, các loại công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện, tư liệu sản xuất và các tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ.) dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Bất cứ một công nghệ nào, dù đơn giản cũng phải gồm có bốn thành phần tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đối mong muốn. - Công nghệ hàm chứa trong các vật thể, bao gồm mọi phương tiện vật chất như các trang thiết bị, máy móc, công cụ, phương tiện vận chuyển, nhà xưởng. Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần thiết bị - Technoware (T).
Đây là phần vật chất, phần cứng của công nghệ (hard ware). - Công nghệ hàm chứa trong con người, nó bao gồm mọi năng lực của con người về công nghệ như: kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, kỷ luật, tính sáng tạo.mà các kỹ năng chỉ có thể có được qua đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn. Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần con người của công nghệ - Humanware (H). 6 - Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức có tổ chức được tư liệu hóa như: các lý thuyết, các khái niệm, các phương pháp, các thông số, công thức, các bản vẽ kỹ thuật, bí quyết.Dạng thức này của công nghệ được gọi là Phần thông tin - Inforware (I).
- Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế, tạo nên bộ khung tổ chức của công nghệ, như cơ cấu tổ chức, phạm vi chức năng, trách nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết.Đây là Phần tổ chức của công nghệ - Organware (O). Đổi mới công nghệ. Ở Việt Nam hiện nay trong các văn bản chính thức, ngay cả Luật KH&CN và Luật Chuyển giao công nghệ cũng không đề cập khái niệm này, mặc dù trong Luật có cụm từ “đối mới công nghệ" liên quan đến Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia; Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia. Theo Keith Pavitt (2003)2 quá trình đổi mới là quá trình khám phá ra các cơ hội cho một sản phẩm, dịch vụ hay quá trình mới dựa trên các tiến bộ kỹ thuật hoặc dựa trên sự thay đổi của nhu cầu thị trường hoặc của cả hai yếu tố đó.
Keith Pavitt nhấn mạnh rằng cơ sở cho việc đổi mới là các tiến bộ kỹ thuật và sự thay đổi của nhu cầu thị trường. Điều đó nói lên rằng mục đích của việc đổi mới là tạo ra sản phẩm, dịch vụ hay quá trình đáp ứng sự thay đổi của thị trường. Người ta thường dẫn định nghĩa của OECD (1997) 3 theo một nghĩa rộng: “Đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình (Technological product and process innovations)-TPP là việc thực hiện được sản phẩm và quy trình mới về mặt công nghệ hay đạt được tiến bộ đáng kể về mặt công nghệ đối với sản phẩm và quy trình. Đổi mới TPP được thực hiện nếu đổi mới đó đã được đưa ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong sản xuất (đổi mới quy trình).
Đổi mới TPP gắn với một chuỗi các hoạt động khoa học công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại". Khái niệm mới và được cải tiến cơ bản được OECD mở rộng là mới và được cải tiến đối với DN (không nhất thiết là mới hoặc được cải tiến so với thế giới). Điều này cho phép mở rộng phạm vi phân tích về đổi mới, đặc biệt trong bối cảnh của các nước đang phát triển. 7 Để đổi mới thành công (đưa được sản phẩm mới ra thị trường hoặc quy trình mới được áp dụng trong sản xuất).
Tùy thuộc tính chất, các hoạt động này được phân thành: (1) Thu nạp và tạo ra tri thức phù hợp mới đối với DN - R&D. - Thu nạp công nghệ “tách rời" và bí quyết (asquisition of disembodied technology and know-how) thường được thực hiện dưới dạng mua bán các quyền sở hữu công nghiệp. - Thu nạp công nghệ “gắn kèm" (asquisition of embodied technology) thường gắn với việc mua sắm, thu nạp thiết bị máy móc hàm chứa nội dung công nghệ. (2) Các hoạt động chuẩn bị sản xuất khác - Thiết kế sản xuất (tooling-up and industrial engineering): bố trí mặt bằng sản xuất, chọn thiết bị cho từng công đoạn, chọn giải pháp vận hành nhà máy, quy trình kiểm soát chất lượng, áp dụng tiêu chuẩn để chế tạo sản phẩm mới hoặc sử dụng quy trình mới.
- Thiết kế công nghiệp (industrial design): phương án và bản vẽ quy định quy trình, thông số kỹ thuật và đặc tính vận hành cần thiết cho sản xuất sản phẩm mới hoặc thực hiện quy trình mới. - Thu nạp các tư liệu sản xuất khác như nhà xưởng, máy móc thông thường (không có tiến bộ gì về các đặc tính kỹ thuật) cần thiết cho việc thực hiện đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình.