Chương 1. Giới thiệu vấn đề đặt ra cho lý do chọn đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, tổng quan tài liệu và khuôn khổ phân tích từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu cho đề tài. Phương pháp nghiên cứu, làm rõ khuôn khổ phân tích, khảo sát và quy trình nghiên cứu, thu thập số liệu.
Kết quả nghiên cứu: thực hiện các bước phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu như: đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha; phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy từ dữ liệu thu thập được. Kết luận và khuyến nghị chính sách nhằm góp phần cải thiện việc chấp nhận Chính phủ điện tử tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Để đảm bảo rằng mô hình dự định có nền tảng an toàn bằng cách đưa ra các yếu tố quan trọng để chấp nhận chính phủ điện tử, chương 2 sẽ đánh giá các mô hình, cơ sở các lý thuyết và cố gắng áp dụng vào chính phủ điện tử, với các biến tiềm năng ảnh hưởng đến việc chấp nhận chính phủ điện tử theo quan điểm của người dân.
Trong chương này, giải thích các khái niệm quan trọng, tổng quan cơ sở lý thuyết áp dụng cho nghiên cứu, như: Lý thuyết hành động hợp lý (TRA), lý thuyết về hành vi theo kế hoạch (TPB), Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM) và có sự nhấn mạnh về mô hình tin cậy Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT), qua đó tập trung vào nghiên cứu về chấp nhận chính phủ điện tử để đề xuất mô hình nghiên cứu phù với đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.1 Định nghĩa các thuật ngữ chính 2.1 Chính phủ điện tử Theo định nghĩa của World Bank (2015), thì Chính phủ điện tử là sự áp dụng các dịch vụ điện tử dựa trên nền tảng cơ sở công nghệ thông tin truyền thông của các cơ quan Chính phủ một cách có hệ thống để tương tác với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Nhờ đó việc thực hiện các trao đổi thông tin và giao tiếp giữa các cơ quan Chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ được cải thiện. Từ đó sẽ làm giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, minh bạch, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăng trưởng và làm giảm chi phí hoạt động của các dịch vụ công. Theo Khung kiến trúc chính phủ điện tử Việt Nam (MIC, 2015), Chính phủ điện tử là “Chính phủ áp dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp”.2 Nhận thức dễ sử dụng (PEOU) Mức độ mà người dùng tin rằng việc sử dụng hệ thống là điều dễ dàng hoặc mong muốn hệ thống mục tiêu không còn phải nỗ lực nữa, và nó trực tiếp làm gia tăng tính hữu dụng được nhận thấy (Davis, 1989).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Nhận thức hữu ích (PU) Mức độ người dùng tin rằng một hệ thống cụ thể tạo điều kiện cho hoạt động của họ. Khả năng sử dụng một hệ thống ứng dụng cụ thể sẽ làm tăng hiệu quả công việc của mình (Davis, 1989).4 Sự tin cậy (Trust) Sự tin cậy là quy mô mà người dùng tin rằng trang/ cổng thông tin là hợp pháp, đáng tin cậy và có thể bảo vệ sự riêng tư của họ (Wan, 2000). Sự tin cậy là đánh giá của người tiêu dùng trực tuyến liên quan đến sự đáng tin cậy của nhà cung cấp điện tử (Felix & Paul, 2004).5 Nhận thức về độ bảo mật Bảo mật bao gồm dữ liệu được các cá nhân ủy quyền xem. Theo Pauline (1998), bảo mật được định nghĩa là hành động bảo đảm rằng dữ liệu chỉ được tiết lộ cho các bên có nhu cầu chính đáng để biết hoặc có quyền truy cập vào nó.6 Thuật ngữ "chấp nhận" Trong nghiên cứu này, việc chấp nhận chính phủ điện tử bao gồm sự tham gia, tương tác và sự liên quan giữa các cơ quan chính phủ với công dân, chứ không chỉ cung cấp thông tin thông qua các trang web của chính phủ.
Warkentin và cộng sự (2002) sử dụng thuật ngữ liên quan đến ý định của công dân tham gia vào chính phủ điện tử để yêu cầu dịch vụ và nhận thông tin từ các cơ quan chính phủ.7 Nhận thức về sự toàn vẹn dữ liệu Tính toàn vẹn của một hệ thống thông tin đề cập đến sự bất khả thi của dữ liệu được truyền hoặc lưu trữ được các bên thứ ba sửa đổi mà không được phép. Theo Bomil & Ingoo (2003), tính toàn vẹn dữ liệu có nghĩa là dữ liệu trong quá trình truyền không được tạo ra, chặn, sửa đổi hoặc xóa bất hợp pháp.2 Các giai đoạn phát triển của chính phủ điện tử Dựa theo nghiên cứu của Baum và Maio (2000), Chính phủ điện tử được chia làm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cấp độ khác nhau, đây cũng được xem là 4 giai đoạn trong quá trình xây dựng và phát triển chính phủ điện tử. - Giai đoạn thông tin: Chính phủ điện tử chỉ cung cấp các thông tin cho người dân thông qua các website của hệ thống. Điều này giúp cho người dân có thể tiếp cận được thông tin được cung cấp bởi Chính phủ một cách nhanh chóng, các quy trình trở nên minh bạch hơn, đảm bảo được nguồn thông tin chính xác, nâng cao nhận thức của người dân thông qua các thông tin được cung cấp.
- Giai đoạn tương tác: Sự tương tác giữa Chính phủ và người dân được nâng cao thông qua các dịch vụ Chính phủ điện tử. Người dân có thể trao đổi trực tiếp với các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý thông qua các công cụ được cung cấp hoặc được quy định từ chính phủ, người dân có thể tra cứu thông tin, tải xuống các biểu mẫu và tài liệu được cung cấp từ chính phủ. Qua đó có thể giảm thiểu được thời gian cho người dân và các cơ quan hành chính. - Giai đoạn giao dịch: Ở giai đoạn này, người dân có thể thực hiện các giao dịch với các cơ quan chính phủ thông qua các dịch vụ và hệ thống của chính phủ.
Việc thực hiện các giao dịch thông qua các hệ thống này có thể nâng cao tính bảo mật, giảm thiểu rủi ro trong quá trình giao dịch. Hơn thế nữa, nó còn nâng cao được tính minh bạch, đảm bảo được lợi ích cho người dân. - Giai đoạn chuyển hóa: Ở giai đoạn này, chính phủ có thể cung cấp hầu như các dịch vụ công, người dân có thể tương tác với các cơ quan chính phủ, thực hiện các giao dịch, tìm kiếm thông tin, đăng ký các dịch vụ khác nhau được cung cấp bởi chính phủ thông qua các dịch vụ và hệ thống của chính phủ điện tử.3 Các quan hệ tương tác trong chính phủ điện tử Mục tiêu của chính phủ điện tử là cung cấp các cơ hội tốt hơn cho sự tham gia vào các quá trình và thể chế dân chủ cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ cho cả người dân và doanh nghiệp (Dridi và cộng sự, 2003). Do đó, chính phủ điện tử bao gồm việc sử dụng ICT trong quản trị công để chuyển đổi các quy trình và cơ cấu của các tổ chức.
Sự đa dạng của các ứng dụng chính phủ điện tử có thể được phân thành bốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 loại chính: Chính phủ đối với công dân (G2C), Chính phủ cho nhân viên (G2E), Chính phủ đến doanh nghiệp (G2B) và Chính phủ với Chính phủ (G2G). - Chính phủ với Công dân (G2C) Các cơ quan chính phủ có thể sử dụng phương tiện trực tuyến của G2C để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến công dân, có thể bao gồm nhiều sự tương tác giữa chính phủ và người dân, chẳng hạn như giao tiếp, tạo điều kiện và khám phá, tăng cường sự tham gia của người dân, bao gồm dân chủ điện tử và bỏ phiếu trực tuyến để tăng cường cam kết chính trị, cũng như các dịch vụ cơ bản của chính phủ như trả tiền trực tuyến, đặt lịch hẹn,. - Chính phủ với Doanh nghiệp (G2B) G2B xảy ra khi có giao dịch điện tử giữa khu vực tư nhân và chính phủ và chủ yếu được áp dụng để phát triển thị trường trực tuyến cho các chính phủ và hệ thống mua sắm điện tử cũng như cung cấp các dịch vụ và sản phẩm cho các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân. Sự tương tác của G2B làm tăng tính nhất quán của các nhiệm vụ chuyên sâu cho nhân sự, cũng như tinh giản quá trình, đã thu được lợi ích từ kinh nghiệm trước đây của khu vực tư nhân về thương mại điện tử và các dịch vụ trực tuyến khác và sự thừa nhận rằng các dịch vụ điện tử này đóng góp để cải thiện cạnh tranh và chi phí thấp hơn.
- Chính phủ với Chính phủ (G2G) G2G tích hợp việc tổ chức thông tin của chính quyền địa phương vào một cơ sở dữ liệu, và đây là cốt lõi của khuôn khổ các hệ thống chính phủ điện tử. Do đó, khi yêu cầu chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan chính phủ khác nhau cần công nghệ tiên tiến cao, lĩnh vực này đã được mô tả là mục tiêu cuối cùng cho tất cả các chính phủ. Kết quả của các giao dịch tập trung này, các cơ quan chính phủ có thể sử dụng điểm truy cập này để cải thiện kết quả, hiệu quả, tiết kiệm thời gian, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tăng tính nhất quán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 - Chính phủ với người lao động (G2E) Các cán bộ, công chức, viên chức trong chính phủ cũng là những người dân trong xã hội, nên các dịch vụ cung cấp cho người dân (G2C) cũng thực hiện cho các công chức chính phủ, ngoài ra các cơ quan chính phủ còn cung cấp các dịch vụ chỉ dành cho những người làm việc trong các cơ quan chính phủ, như cung cấp việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, học từ xa (e-learning), quản lý tri thức, cung cấp các thông tin về lương, hưu, mất sức.4 Lợi ích của chính phủ điện tử Lợi ích của Chính phủ điện tử liên quan đến tăng tính minh bạch, tăng trưởng và tỷ lệ tham nhũng thấp hơn giữa các cơ quan chính phủ.