Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN Ở XÃ ĐỌI SƠN, HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM 10 1. Một vài khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Lễ hội Trên thế giới, mỗi một quốc gia lại có một loại hình sinh hoạt văn hóa riêng, mang đậm bản sắc văn hóa của quốc gia mình, và có lẽ “lễ hội” là loại hình tiêu biểu nhất. Đây là một loại hình sinh hoạt văn hóa đặc biệt có tính tập thể, phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt của người dân trong lao động sản xuất, hay trong việc hình dung lại các sự kiện lịch sử.
Lễ hội nào cũng có những hình thức rước xách, diễu hành, vui chơi nhưng ở mỗi quốc gia thì lễ hội lại có những nét độc đáo riêng, mang đậm dấu ấn riêng của quốc gia đó. Vì thế lễ hội giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và đời sống xã hội, nó chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống như: kinh tế - xã hội, văn hóa, tâm lý và tôn giáo tín ngưỡng của con người. Mỗi vùng miền, quốc gia lại có hình thức tổ chức Lễ hội khác nhau. Chính vì thế mà đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hình thái sinh hoạt văn hóa này.
Sau đây là một số khái niệm điển hình về “lễ hội”: - Khi nghiên cứu về đặc tính và ý nghĩa “lễ hội” ở nước Nga, M.Bachie cho rằng: “Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò biểu diễn, đó là cuộc sống chiến đấu của cộng đồng cư dân. Tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu. Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiện, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả” [32]. - Ở Việt Nam, khái niệm Lễ hội mới chỉ xuất hiện cách đây không lâu, ban đầu chỉ có khái niệm lễ hoặc hội.
Cả hai khái niệm này đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục, chẳng hạn như: lễ Thành 11 Hoàng, lễ gia tiên. cũng như vậy trong hội cũng có nhiều hội khác nhau như: Hội Gióng, Hội Lim. Thêm chữ “lễ” cho “hội”, thời nay con người chúng ta mong muốn gắn hai hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, hai đặc trưng này đi liền với nhau, đầu tiên là lễ bái, tế lễ thần linh, cầu phúc và sau là thăm thú, vui chơi ở nơi đông đúc, vui vẻ. - Trong “Từ điển Tiếng Việt” lại có định nghĩa về “Lễ hội” như sau: lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện.
Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên hạnh phúc cho từng cá nhân, gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, gia cầm, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh" [71]. - Trong cuốn “Hội hè Việt Nam” các tác giả cho rằng “hội và lễ” là một sinh hoạt văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam. Hội và lễ có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội cũng tham gia để trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thập kỷ. - Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” - Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc.Lễ hội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai” [48].
Như vậy ta thấy “Lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời. Lễ là phần đạo đức tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người. Hội là các trò diễn mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọng với cả cộng đồng. Khái niệm “Lễ hội Tịch Điền” Lễ hội Tịch Điền nhằm cầu cho cầu quốc thái dân an, mùa màng bội thu, đồng thời tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, lòng biết ơn tiền nhân, tích cực phát triển sản xuất nông nghiệp.
Năm 980, vua Lê Đại Hành (941 - 1005) lên ngôi, lãnh đạo nhân dân ta đánh bại lũ giặc phương Bắc, bình định phương Nam, ổn định lại việc triều chính, đồng thời thực thi nhiều chính sách khuyến khích nông nghiệp. Mặc dù phải giải quyết rất nhiều nhiệm vụ cấp bách nhưng vua Lê Đại Hành vẫn tổ chức nghi lễ Tịch Điền vào dịp Tết Nguyên đán hằng năm cho nhân dân tham gia. Đến đời nhà Lý, nghi lễ Tịch Điền được triều đình tổ chức thường xuyên ở nhiều địa điểm khác nhau. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: “Nhâm Thân năm thứ 5 (1032), mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, vua ngự đến Tín Hương ở Đỗ Động giang cày ruộng tịch điền, có nhà nông dâng một cây lúa chiêm có 9 bông thóc.
Xuống chiếu đổi gọi ruộng ấy là ruộng Ứng Thiên. Ngày ấy trở về cung. Mậu Dần (Thông Thụy) năm thứ 5 (1038), mùa xuân, tháng 2, vua ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền. Sau Hữu ty dọn cỏ đắp đàn.
Vua thân tế Thần Nông, tế xong tự cầm cày để làm lễ cày. Các quan tả hữu có người can rằng: “Đó là công việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế”? Vua nói: “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lại lấy gì cho thiên hạ noi theo?”. Nói xong đẩy cày ba lần rồi thôi. Tháng 3 vua về Kinh sư.
Nhâm Ngọ (Càn Phù Hữu Đạo) năm thứ 4 (1042), mùa xuân, tháng 3 vua ngự ra cửa biển Kha Lãm cày ruộng tịch điền rồi về Kinh sư”. Nghi lễ Tịch Điền được miêu tả chi tiết, sâu sắc nhất trong các thư tịch lịch sử của triều Nguyễn. Đại Nam thực lục chính biên có ghi: “Vua tay phải cầm cày, tay trái cầm roi, kỳ lão và nông phu đều hai người dắt trâu, thị vệ hai người đỡ cày. Ca sinh hát bài “Hoa từ”, nhạc sinh múa cờ màu; nhã nhạc cử nhạc.
Phủ Thừa Thiên bưng thùng lúa đi theo. Hoàng tử cùng quan 13 bộ Hộ đều cử một người theo sau vãi lúa. Vua cày ba đường đi ba đường lại xong, ngự lên đài Quan canh. Các quan ở dưới đài chia hai bên đứng hầu.
Các hoàng tử, và thần công theo cày, đều đội mũ vàng mặc áo đỏ, cầm cày cầm roi cày năm đường đi năm đường lại, kế đến văn võ đại thần chín người, văn đội mũ văn công, võ đội mũ hở đầu, đều mặc áo lam, cùng cầm cày cầm roi cày chín đường đi chín đường lại. Đều dùng thuộc lại kinh huyện đi theo sau bưng thùng lúa vãi lúa. Lễ xong, vua ngự điện cụ phục, thay mặc long bào rộng tay, lên kiệu. Đại nhạc, nhã nhạc đều nổi.
Các quan lại ở trong cửa phường quỳ tống”. Như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam đã tổ chức nghi lễ tịch điền nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp, phát huy truyền thống trọng nông của dân tộc. Khuyến nông thực sự trở thành quốc sách. Nghi lễ tịch điền cũng trở thành quốc lễ, không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của nước nhà đối với nông nghiệp và nông dân, mà còn tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, lòng biết ơn tiền nhân, tích cực phát triển sản xuất nông nghiệp.
Sau khi nước ta giành được độc lập, nhất là từ khi miền Bắc giải phóng, nhân dân xây dựng hậu phương lớn, tiến lên chủ nghĩa xã hội, Bác Hồ cũng rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp. Người trực tiếp phát động phong trào “nông dân thi đua canh tác” vào tháng 2 năm 1951; trực tiếp sửa chữa rất kỹ bản dự thảo Điều lệ Hợp tác xã. Đặc biệt, hình ảnh Bác xắn quần lội ruộng, tát nước chống hạn với người dân là những hình ảnh đẹp phản ánh quan niệm trọng nông, vì đời sống nông dân, luôn sống mãi trong lịch sử nước nhà. Nhằm bảo tồn nét văn hóa tâm linh tốt đẹp này của dân tộc, phát huy truyền thống “dĩ nông vi bản”, Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn được phục hồi trở lại từ năm 2009 với nhiều nghi lễ truyền thống hấp dẫn, giàu giá trị trọng nông, 14 khuyến khích người dân tham gia canh tác nông nghiệp.
Nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển của Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn Tỉnh Hà Nam nằm ở phía Tây Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ với hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ, đường sắt đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi về đi lại và vận chuyển hàng hóa cho các phương tiện cơ giới. Cách trung tâm Thành phố Hà Nội khoảng 60 km, Hà Nam có phía Bắc giáp với Hà Nội, phía Đông giáp với Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp với Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp với Hòa Bình. Được gọi là cửa ngõ phía Nam của Thủ đô Hà Nội, vị trí địa lý này tạo thuận lợi cho việc phát triển, giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật của Hà Nam với các tỉnh, thành phố trong vùng và trong cả nước. Toàn tỉnh Hà Nam gồm 6 đơn vị hành chính cấp thành phố và cấp huyện: thành phố Phủ Lý, huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng, huyện Lý Nhân, huyện Thanh Liêm, huyện Bình Lục.
Xã Đọi Sơn, thuộc huyện Duy Tiên cách trung tâm tỉnh Hà Nam - thành phố Phủ Lý 10 km về hướng Bắc, đi từ Hà Nội đến ga Đồng Văn rẽ trái đi hướng thị trấn Hòa Mạc khoảng 16 km là đến xã. Xã Đọi Sơn có 7 thôn (làng): Đọi Nhất, Đọi Nhì, Đọi Tam, Đọi Trung, Đọi Lĩnh, Đọi Tín và Ngân Hà, gồm 1048 hộ với 4.