Chương 1: Chương này sẽ giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Chương này trình bày các khái niệm liên quan đến sự gắn kết của người lao động, các lý thuyết và nghiên cứu trước đây có liên quan, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Chương này sẽ giới thiệu về việc xây dựng thang đo, cách chọn mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập thông tin được tiến hành như thế nào và các kỹ thuật phân tích dữ liệu thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này sẽ phân tích, diễn giải các dữ liệu đã thu được từ cuộc khảo sát bao gồm các kết quả kiểm định độ tin cậy và độ phù hợp của thang đo. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Chương này sẽ đưa ra một số kết luận từ kết quả thu được và một số hàm ý quản trị đề xuất đối với BHXH tỉnh Bình Dương và những hạn chế trong nghiên cứu.
5 Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Các khái niệm liên quan đến bảo hiểm xã hội tự nguyện 2.1 Khái niệm bảo hiểm Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kỹ thuật, nghiệp vụ…. Hồ Sĩ Sà (2000, trang 12) định nghĩa: “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quy luật thống kê) cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứ ba; Điều này có nghĩa là người tham gia chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp một khoản phí để hình thành quỹ dự trữ. Khi người tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia. Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm” Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính, thông qua đó một cá nhân hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng góp phí bảo hiểm cho mình hay cho người thứ ba.
Khoản tiền bồi thường hoặc chi trả này do một tổ chức đảm nhận, tổ chức này có trách nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy luật thống kê (Nguyễn Văn Định, 2008). Nguyễn Thị Ngọc Trinh (2016) chỉ ra rằng “Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ bảo hiểm tập trung nhằm giải quyết các rủi ro bảo hiểm cho các đối tượng tham gia bảo hiểm, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội Trên bình diện quốc tế, khái niệm chung của ILO về ASXH cũng được sử dụng trong lĩnh vực BHXH. Theo công ước 102 (1952) thì BHXH có thể được 6 hiểu khái quát là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp cộng đồng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con. BHXH là loại hình dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường, hoạt động không nhằm mục đích kiếm lời.
BHXH có vai trò kinh tế xã hội hết sức quan trọng vì nó hướng tới diện bảo vệ là người lao động, lực lượng quan trọng đang trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội. BHXH có tính cộng đồng, tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc và là trụ cột chính của hệ thống ASXH của mỗi nước (Phạm Thị Định và Nguyễn Văn Định, 2011).3 Khái niệm bảo hiểm tự nguyện Theo quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội thì bảo hiểm xã hội bao gồm BHXH BB và BHXH TN. BHXH BB: là loại hình BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia. BHXH TN: là loại hình BHXH mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội.
BHXH TN được triển khai thực hiện từ năm 2008 với 2 chế độ bảo hiểm là hưu trí và tử tuất. Theo Nguyễn Thị Ngọc Trinh (2016) BHXH là chính sách an sinh xã hội của Nhà nước nhằm mục đích chi trả một phần thu nhập cho người lao động khi gặp sự cố trong cuộc sống như ốm đau, thai sản, tuổi già không còn khả năng lao động hoặc tử tuất trên cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới sự quản lý của Nhà nước.4 Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện Theo quy định tại điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội thì người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, ấp, bản, làng, tổ dân phố, khu phố; Người lao động giúp việc gia đình; người tham gia các hoạt 7 động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không hưởng tiền lương, xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Người nông dân, người lao động tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân và gia đình; Người lao động đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về BHXH. Các khái niệm liên quan đến người lao động tự do Người lao động tự do (người lao động tự làm) là những người lao động có việc làm phi chính thức hay có thể gọi là lao động phi chính thức.
Theo báo cáo thống kê đầu tiên của Việt Nam về việc làm phi chính thức được Tổng Cục Thống kê và Viện Khoa học Lao động – Xã hội công bố ấn phẩm ngày 14 tháng 8 năm 2018, việc làm phi chính thức được định nghĩa là việc làm không có bảo hiểm xã hội (đặc biệt là bảo hiểm xã hội bắt buộc) và không có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên. Phạm vi tính lao động tự do của báo cáo được thể hiện theo hình 2.1: Phạm vi tính lao động tự do theo khu vực Nguồn: Báo cáo lao động phi chính thức 2016 (2018) Cũng theo báo cáo báo cáo thống kê đầu tiên của Việt Nam về việc làm phi chính thức, đặc trưng của người lao động phi chính thức có một số đặc điểm dễ nhận thấy như: “việc làm bấp bênh, thiếu ổn định, thu nhập thấp, thời gian làm 8 việc dài; không có hợp đồng lao động hoặc có nhưng không được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, không được chi trả các chế độ phụ cấp và các khoản phúc lợi xã hội khác. Những người lao động này thường luẩn quẩn trong đói nghèo, hạn chế về năng lực, kiến thức và điều kiện kinh tế, do đó không có nhiều cơ hội để hòa nhập xã hội.” Tỷ lệ lao động tự do theo ngành nghề được công bố là: Hình 2.2: Tỷ lệ lao động chính thức và lao động phi chính thức theo nhóm nghề, năm 2016. Nguồn: Báo cáo lao động phi chính thức 2016 (2018) Trong phạm vi đề tài này, người lao động tự do được khảo sát chủ yếu liên quan đến nhóm thợ thủ công và các thợ khác có liên quan, nhóm dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng.1 Cơ sở khoa học của sự phát triển BHXN tự nguyện Phạm Thị Lan Phương (2015) đã trình bày về cơ sở khoa học của sự phát triển BHXH như sau “nhu cầu BHXH (theo nghĩa hẹp) là nhu cầu được bảo đảm và duy trì cuộc sống của NLĐ và gia đình họ ở mức độ nào đó.
Nhu cầu này là nhu 9 cầu động và nó chỉ có thể đáp ứng được ở mức độ nào đó (với mức ngày một tăng lên nhưng không thể tăng mãi). Nhu cầu BHXH rất đa dạng và luôn phát triển mở rộng, nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu thì không phải như vậy, vì một mặt, khả năng đáp ứng nhu cầu luôn có một độ trễ nhất định so với nhu cầu. Mặt khác, khả năng đáp ứng nhu cầu lại phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố kinh tế – xã hội và trong chừng mực nhất định, phụ thuộc vào cả yếu tố chính trị của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. Đáp ứng được nhu cầu BHXH TN là cả một nghệ thuật, nhận thức và trình độ tổ chức của hệ thống BHXH mỗi nước”.
Theo từ điển tóm tắt xã hội học: Nhu cầu là đòi hỏi điều gì đó cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con người, của nhóm xã hội, của toàn xã hội nói chung; là nguồn thôi thúc nội tại của hành động. Thuyết nhu cầu cho thứ bậc được nhà tâm lý học Maslow đã đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation, đây được xem là một trong những lý thuyết nền tảng quan trọng trong kinh tế và được ứng dụng rộng rãi trong việc quản trị nhân sự và quản trị maketing - kinh doanh. Theo thuyết nhu cầu cho thứ bậc của Maslow chỉ ra rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được phát triển theo một thứ tự từ thấp đến cao, cấp bậc nhu cầu thấp nhất là nhu cầu sinh lý và cao nhất là nhu cầu tự khẳng định, cụ thể như sau: Nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu cơ bản thiết yếu đáp ứng để con người có thể tồn tại bao gồm những nhu cầu như: ăn, uống, ngủ, nơi cư trú, tình dục, nghỉ ngơi… Một khi nhu cầu này không được đáp ứng thì sẽ không thúc đẩy được con người tới các nhu cầu cao hơn. Nhu cầu an toàn: khi các nhu cầu để con người tồn tại được đáp ứng (nhu cầu sinh lý), con người sẽ mong muốn mình được bảo vệ, an toàn cho cá nhân hơn.