Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, hoạt động tìm kiếm việc làm ngoài biên giới quốc gia đã trở thành hiện tượng phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, xuất khẩu lao động (XKLĐ) được xác định là một giải pháp kinh tế - xã hội quan trọng nhằm giải quyết tình trạng dư thừa lao động, giảm áp lực thất nghiệp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và gia tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
Việt Nam sở hữu quy mô dân số gần 90 triệu người (đứng thứ 14 trên thế giới tại thời điểm nghiên cứu), tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn về quy mô lực lượng lao động so với khu vực và thế giới. Thống kê năm 2014 cho thấy quy mô nguồn lao động cả nước đạt 69,2 triệu người, trong đó lực lượng lao động tham gia hoạt động kinh tế là 53,6 triệu người. Mỗi năm, thị trường tiếp nhận bổ sung từ 1,1 đến 1,3 triệu người bước vào độ tuổi lao động. Trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực thành thị và tỷ lệ thời gian nhàn rỗi ở khu vực nông thôn vẫn ở mức cao, XKLĐ là một hướng đi mang tính chiến lược để khai thác tiềm năng nhân lực. Dù vậy, hoạt động XKLĐ của Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế về chất lượng lao động, cơ cấu thị trường và công tác quản lý.
Khóa luận xác định các nội dung nghiên cứu trọng tâm bao gồm:
- Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn 2001–2014, đánh giá những kết quả đạt được cùng các tồn tại, hạn chế; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả XKLĐ trong thời gian tiếp theo.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam ra thị trường quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Tập trung vào các thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam thường xuyên với quy mô đáng kể như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Lào và khu vực Trung Đông.
- Thời gian: Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2014 (cập nhật số liệu đến đầu năm 2015).
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành kinh tế lao động và kinh tế đối ngoại:
- Nguồn lao động: Bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân; được đánh giá đồng thời qua hai khía cạnh số lượng và chất lượng (thể lực, trí lực và tâm lực).
- Hàng hóa sức lao động: Tổng hợp thể lực và trí lực của con người, là một loại hàng hóa đặc biệt mà khi sử dụng sẽ tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó ($C + V + M$, trong đó tiền lương $V$ là giá cả sức lao động dùng để tái sản xuất sức lao động).
- Thị trường lao động và các dạng thất nghiệp: Bao gồm thất nghiệp tạm thời (frictional), thất nghiệp cơ cấu (structural) và thất nghiệp do thiếu cầu/chu kỳ (cyclical).
- Bản chất của xuất khẩu lao động: Hoạt động kinh tế đối ngoại mà một quốc gia cung ứng sức lao động cho quốc gia khác trên cơ sở các hiệp định, hợp đồng có tính chất pháp quy nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, chính trị và xã hội. Đây là hình thức di cư lao động quốc tế chính thức, hợp pháp và có thời hạn.
Hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ
Nghiên cứu tổng hợp và phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động XKLĐ của Việt Nam qua các thời kỳ:
- Giai đoạn 1980–1990: Nghị quyết 362/CP (29/11/1980), Quyết định 46/CP (11/12/1980) và Quyết định 398/CT (26/12/1987) về hợp tác lao động với các nước xã hội chủ nghĩa và nhận thầu công trình ở nước ngoài.
- Giai đoạn 1991–2005: Nghị định 370-HĐBT (09/11/1991); Bộ luật Lao động (23/06/1994); Nghị định 07/CP và Nghị định 05/CP (1995); Quyết định 26/2005/QĐ-BTC và Nghị định 141/2005/NĐ-CP về Quỹ hỗ trợ XKLĐ và quản lý lao động ở nước ngoài.
- Giai đoạn từ 2006 đến nay: Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 72/2006/QH11 (ban hành ngày 12/12/2006, hiệu lực từ 01/07/2007); Thông tư liên tịch 59/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH; Nghị định 126/2007/NĐ-CP và Nghị định 144/2007/NĐ-CP.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết; phương pháp thống kê mô tả, phân loại và so sánh; kết hợp nghiên cứu lý luận với khảo sát thực tiễn.
- Nguồn dữ liệu: Báo cáo chính thức của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội); Báo cáo phát triển của Ngân hàng Thế giới (World Bank); Cơ quan tư vấn Rủi ro về Kinh tế và Chính trị (PERC); Cơ quan Quốc gia về Phái cử và Bảo vệ Lao động Ngoài nước Indonesia (BNP2TKI); Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam sang Lào (AVIL).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về di cư lao động quốc tế và XKLĐ:
- Phân loại hình thức XKLĐ: Phân theo trình độ chuyên môn (lao động có nghề và lao động không có nghề); phân theo cách thức thực hiện (trực tiếp qua doanh nghiệp dịch vụ, người lao động tự ký kết, XKLĐ tại chỗ); phân theo mô hình áp dụng tại Việt Nam (hiệp định liên chính phủ, hợp tác chuyên gia, hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng nhận thầu khoán công trình/đầu tư ra nước ngoài, hợp đồng cá nhân trực tiếp).
- Đặc điểm của hoạt động XKLĐ: Mang bản chất kinh tế đối ngoại gắn liền với mục tiêu xã hội; kết hợp giữa quản lý vĩ mô của Nhà nước và tính tự chủ của doanh nghiệp; diễn ra trong môi trường cạnh tranh quốc tế gay gắt; đòi hỏi bảo đảm hài hòa lợi ích của ba chủ thể (Nhà nước, doanh nghiệp phái cử, người lao động); chịu sự biến động phức tạp của kinh tế toàn cầu và chứa đựng sự giao thoa văn hóa giữa các quốc gia.
- Các nhân tố ảnh hưởng: Cạnh tranh quốc tế; quan hệ cung - cầu lao động toàn cầu; hệ thống pháp luật của nước xuất khẩu và nước tiếp nhận; chất lượng nguồn lao động (thể lực, trí lực, tác phong); các yếu tố văn hóa, phong tục, tôn giáo.
- Vai trò đa chiều:
- Đối với nước xuất khẩu: Giải quyết việc làm, giảm nghèo, chuyển giao kỹ năng công nghiệp, tăng nguồn thu ngoại tệ và tích lũy ngân sách (tiết kiệm hơn 100 triệu đồng sau hợp đồng 2 năm theo ước tính của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội).
- Đối với nước nhập khẩu: Bù đắp thiếu hụt nhân lực do già hóa dân số, giảm chi phí đầu vào và phân bổ lại cơ cấu lao động bản địa vào các ngành có giá trị gia tăng cao hơn.
- Ở góc độ vi mô: Doanh nghiệp thu phí dịch vụ từ 10% đến 18% tiền lương cơ bản của lao động; người lao động tích lũy vốn trung bình khoảng 200 triệu đồng sau 3 năm làm việc.
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Chương 2 phân tích thực trạng XKLĐ của Việt Nam trên các phương diện chính sách, đặc điểm nguồn cung, thị trường tiếp nhận và cơ cấu lao động:
-
Đặc điểm nguồn lao động Việt Nam:
- Lực lượng lao động tăng từ 38,6 triệu người (năm 2000) lên 50,4 triệu người (năm 2010), tốc độ tăng bình quân 3,3%/năm.
- Phân bố không đồng đều: Lao động nông nghiệp chiếm hơn 70% tổng lực lượng lao động nhưng chỉ tạo ra chưa đầy 21% GDP; 93% cán bộ khoa học kỹ thuật tập trung tại các cơ quan Trung ương, 6% ở cấp tỉnh và 0,3% ở cấp huyện.
- Chất lượng còn hạn chế: Theo Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11/12 nước châu Á; tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm 87,81%; trình độ THCS chiếm 25%, THPT chiếm 13%, chỉ 7% học sinh tốt nghiệp THPT tiếp tục học nghề/đại học/cao đẳng. Điểm đánh giá năng lực cạnh tranh quốc tế (thang điểm 100): năng suất lao động đạt 20 điểm, thái độ lao động 40 điểm, kỹ năng lao động 16 điểm và chất lượng lao động 32 điểm.
-
Kinh nghiệm XKLĐ một số nước Đông Nam Á:
- Philippines: Xuất khẩu 1,1 triệu lao động năm 2009, lượng kiều hối đạt 17,3 tỷ USD (chiếm 10,8% GDP), có khoảng 8,6 triệu người làm việc tại nước ngoài.
- Indonesia: Năm 2009 xuất khẩu 789 nghìn lao động, trong đó hơn 60% sang Trung Đông (Malaysia tiếp nhận 222.830 người, Đài Loan tiếp nhận 50.150 người).
- Thái Lan: Hơn 400 doanh nghiệp tham gia, năm 2011 đưa 147 nghìn lao động đi làm việc (nam chiếm 82,2%, nữ chiếm 17,8%; 66,4% tập trung tại châu Á).
-
Phân tích các thị trường tiếp nhận lao động chính của Việt Nam:
- Đài Loan: Thị trường tiếp nhận lớn nhất (chiếm 32,6% tổng số lao động xuất khẩu tính đến năm 2010); làm việc trong 28 ngành nghề (chế tạo, may mặc, điện tử, khán hộ công, giúp việc); mức thu nhập bình quân 200–300 USD/tháng, cá biệt đạt 400–600 USD hoặc gần 1.000 USD/tháng.
- Nhật Bản: Tiếp nhận qua 2 diện: Kỹ thuật viên (yêu cầu bằng cao đẳng/đại học, tiếng Nhật N4 trở lên) và Thực tập sinh kỹ năng (từ cấp 2 trở lên, tuổi 18–30). Thu nhập tu nghiệp sinh từ 400–600 USD/tháng, thực tập sinh kỹ thuật đạt 700–1.000 USD/tháng. Số lượng lao động tăng từ 1.497 người (năm 2000) lên 4.913 người (năm 2010).
- Hàn Quốc: Triển khai chương trình EPS (gần 20.000 lao động) và tổng lượt người đạt trên 64.000. Mức lương bình quân 950–1.200 USD/tháng, lượng kiều hối gửi về khoảng 450 triệu USD/năm. Tỷ lệ lao động bỏ trốn và cư trú bất hợp pháp cao (trên 50%) khiến Hàn Quốc dừng gia hạn EPS vào tháng 8/2012; sau khi ký Bản ghi nhớ đặc biệt (MOU) ngày 31/12/2013, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 38,2% vào cuối năm 2013.
- Malaysia: Tiếp nhận trên 190.000 lượt lao động từ năm 2002 đến 2014 qua 138 doanh nghiệp phái cử; chiếm 26,2% tổng LĐXK đến năm 2010; thu nhập khoảng 750 RM/tháng (khoảng 5 triệu đồng).
- Lào: Khoảng 13.500 lao động Việt Nam làm việc tại các dự án đầu tư (Hoàng Anh Gia Lai: 6.900 người, Tập đoàn Cao su: gần 1.000 người, Sông Đà: khoảng 600 người); thu nhập lao động phổ thông đạt 250 USD/tháng, lao động kỹ thuật đạt 500 USD/tháng.
- Khu vực Trung Đông: Gần 60.000 lao động (tính đến cuối năm 2009) tại Saudi Arabia, UAE, Qatar; lương cơ bản ngành cơ khí đóng tàu đạt khoảng 500 USD/tháng, ngành xây dựng từ 200–250 USD/tháng.
-
Doanh nghiệp và cơ cấu xuất khẩu lao động Việt Nam:
- Cả nước có hơn 170 doanh nghiệp được cấp phép, đưa khoảng 80.000 lao động/năm đến hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ.
- Tổng lượng xuất khẩu tăng từ 36.168 người (năm 2001) lên 70.594 người (năm 2005) và đạt mức kỷ lục trên 100.000 người vào năm 2014.
- Tỷ lệ lao động có nghề tăng từ 50,9% (18.426 người năm 2001) lên 61,7% (năm 2005) và đạt 76,5% (năm 2010).
- Về ngành nghề (2001–2010): Ngành công nghiệp chiếm 512.611 người (công nghiệp nhẹ 383.646 người, công nghiệp nặng 128.965 người); xây dựng chiếm 45.987 người; dịch vụ chiếm 25.030 người.
| Năm |
Tỷ lệ nam giới (%) |
Tỷ lệ nữ giới (%) |
| 2001 |
78,70 |
21,30 |
| 2002 |
77,10 |
22,90 |
| 2003 |
75,90 |
24,10 |
| 2004 |
44,10 |
55,90 |
| 2005 |
65,20 |
34,80 |
| 2006 |
65,73 |
34,27 |
| 2007 |
66,74 |
33,26 |
| 2008 |
67,12 |
32,88 |
| 2009 |
69,85 |
30,15 |
| 2010 |
66,60 |
33,40 |
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bảng 2.7 trong khóa luận)
| Năm |
Số ngoại tệ thu về (tỷ USD) |
Tỷ trọng trong GDP (%) |
| 2001 |
0,68 |
2,09 |
| 2002 |
1,40 |
3,98 |
| 2003 |
1,57 |
3,94 |
| 2004 |
1,48 |
3,26 |
| 2005 |
1,49 |
2,82 |
| 2006 |
1,62 |
2,66 |
| 2007 |
1,69 |
2,38 |
| 2008 |
1,75 |
1,95 |
| 2009 |
1,55 |
1,69 |
| 2010 |
1,70 |
1,63 |
| 2011 |
1,80 |
1,48 |
| 2012 |
1,75 |
1,29 |
| 2013 |
2,10 |
1,23 |
| 2014 |
2,20 |
1,20 |
Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước – Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bảng 2.9 trong khóa luận)
- Đánh giá chung:
- Kết quả đạt được: Giải quyết việc làm cho hàng vạn người; giảm chi phí đầu tư tạo việc làm trong nước ước tính hơn 3.000 tỷ đồng (dựa trên mức chi phí tạo 1 chỗ làm việc từ 10–100 triệu đồng tùy ngành); người lao động được nâng cao kỹ năng nghề, ngoại ngữ, tác phong công nghiệp; tạo nguồn thu ngoại tệ đạt 1,6 đến 2,2 tỷ USD hàng năm, xếp thứ 7 thế giới về lượng kiều hối tiếp nhận.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu lao động của Việt Nam
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ trên cơ sở bám sát định hướng và mục tiêu đưa 100.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài mỗi năm:
- Định hướng phát triển: Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu lao động xuất khẩu từ lao động phổ thông sang lao động có tay nghề và trình độ kỹ thuật cao; duy trì ổn định các thị trường truyền thống và mở rộng các thị trường có thu nhập cao.
- Giải pháp đối với Nhà nước:
- Hoàn thiện thể chế pháp lý, rà soát và sửa đổi các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; quản lý chặt chẽ mức phí dịch vụ và phí môi giới.
- Vận hành hiệu quả Quỹ hỗ trợ XKLĐ, mở rộng chính sách tín dụng ưu đãi cho lao động diện chính sách và các huyện nghèo.
- Tăng cường đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác lao động song phương cấp Chính phủ và đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân, quản lý lao động ở nước ngoài.
- Đầu tư nâng cấp hệ thống trường dạy nghề, chuẩn hóa chương trình giáo dục định hướng về ngoại ngữ, pháp luật và văn hóa nước tiếp nhận.
- Giải pháp đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động:
- Chuyên nghiệp hóa bộ máy hoạt động, khảo sát và thẩm định kỹ lưỡng điều kiện làm việc của đối tác tiếp nhận nước ngoài.
- Trực tiếp đầu tư xây dựng các trung tâm đào tạo nghề và ngoại ngữ trước khi xuất cảnh; hạn chế tuyển dụng qua các khâu trung gian môi giới bất hợp pháp.
- Tăng cường cơ chế quản lý, giám sát và đại diện bảo vệ quyền lợi người lao động tại nước sở tại để phòng ngừa và xử lý kịp thời các tranh chấp phát sinh.
- Giải pháp đối với người lao động:
- Nâng cao tính kỷ luật, ý thức chấp hành hợp đồng và pháp luật nước sở tại, loại bỏ tình trạng phá vỡ hợp đồng hoặc trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp.
- Tích cực rèn luyện nâng cao trình độ tay nghề, khả năng giao tiếp ngoại ngữ và tác phong công nghiệp.
- Lập kế hoạch quản lý và sử dụng nguồn kiều hối tích lũy để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh hoặc tạo việc làm mới sau khi hồi hương.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả định lượng và luận cứ thực tiễn:
- Hệ thống hóa chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2001–2014 về quy mô lao động xuất khẩu (vượt mốc 100.000 người năm 2014) và dòng ngoại tệ thu về (tăng từ 0,68 tỷ USD năm 2001 lên 2,20 tỷ USD năm 2014).
- Làm rõ sự chuyển dịch tích cực về chất lượng lao động: tỷ lệ lao động có nghề tăng từ 50,9% lên 76,5% trong giai đoạn 2001–2010.
- Đo lường mức giảm chi phí tạo việc làm trong nước nhờ hoạt động XKLĐ (đạt trên 3.000 tỷ đồng).
- Hệ thống giải pháp đề xuất:
- Xây dựng bộ giải pháp đa tầng gắn kết trách nhiệm và quyền lợi của ba nhóm chủ thể: cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp dịch vụ phái cử và bản thân người lao động.
- Nhấn mạnh giải pháp tháo gỡ rào cản tỷ lệ lao động cư trú bất hợp pháp thông qua các chế tài pháp lý kết hợp giáo dục định hướng.
- Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh về hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam trong gần 15 năm (2001–2014) dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế đối ngoại.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm quản lý từ các quốc gia xuất khẩu lao động lớn trong khu vực Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Thái Lan) có thể áp dụng cho bối cảnh Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu ngành nghề và thị trường chi tiết dừng lại ở mốc thống kê năm 2010; số liệu tổng thể cập nhật đến năm 2014.
- Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các thị trường tiếp nhận lao động truyền thống tại khu vực Châu Á và Trung Đông; các thị trường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao (như Tây Âu, Bắc Mỹ) chưa được phân tích sâu do số lượng tiếp nhận thực tế của Việt Nam còn hạn chế.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sau năm 2015 đối với sự dịch chuyển tự do của lao động kỹ năng.
- Nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động trong nước của đội ngũ thực tập sinh và lao động kỹ thuật sau khi hoàn thành hợp đồng về nước.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh tế quốc tế, Quản lý nguồn nhân lực và Xã hội học; các cán bộ nghiên cứu chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước về lao động; các nhà quản trị doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung ứng nhân lực quốc tế.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Hệ thống hóa các mốc văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động XKLĐ từ năm 1980 đến 2014.
- Chuỗi số liệu thống kê về cơ cấu giới tính, tỷ lệ lao động qua đào tạo và doanh thu ngoại tệ giai đoạn 2001–2014.
- Phân tích chi tiết đặc thù tuyển dụng, điều kiện làm việc và khung thu nhập tại các thị trường Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Lào.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu tay nghề của lao động xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001–2010 có sự chuyển dịch như thế nào?
Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bảng 2.5), tỷ lệ lao động có nghề xuất khẩu đã tăng trưởng liên tục từ 50,9% (18.426 người) năm 2001 lên 61,7% (43.556 người) năm 2005 và đạt 76,5% (65.637 người) vào năm 2010. Điều này phản ánh sự chuyển biến trong định hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu nhằm đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường tiếp nhận.
2. Nguồn ngoại tệ thu về từ hoạt động XKLĐ của Việt Nam giai đoạn 2001–2014 đạt quy mô bao nhiêu và đóng góp thế nào vào GDP?
Theo Bảng 2.9 của khóa luận, lượng ngoại tệ thu về tăng từ 0,68 tỷ USD (năm 2001) lên 1,49 tỷ USD (năm 2005), 1,70 tỷ USD (năm 2010) và đạt mức 2,20 tỷ USD (năm 2014). Tỷ trọng ngoại tệ từ XKLĐ trong GDP đạt đỉnh ở mức 3,98% (năm 2002) và duy trì ở mức 1,20% đến 1,29% trong giai đoạn 2012–2014 khi quy mô GDP tổng thể của Việt Nam mở rộng.
3. Nguyên nhân khiến Hàn Quốc tạm ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam theo chương trình EPS vào tháng 8/2012 là gì và kết quả khắc phục ra sao?
Nguyên nhân trực tiếp là tỷ lệ lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng không về nước, bỏ trốn và cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc ở mức rất cao (trên 50%). Sau các nỗ lực tuyên truyền và ban hành chế tài quản lý mới, ngày 31/12/2013, hai nước đã ký Bản ghi nhớ đặc biệt (MOU) để nối lại việc tiếp nhận, qua đó giúp giảm tỷ lệ lao động không về nước từ 53,1% (cuối năm 2012) xuống còn 38,2% (cuối năm 2013).
4. Khóa luận chỉ ra sự khác biệt căn bản giữa chương trình Kỹ thuật viên và Thực tập sinh kỹ năng tại thị trường Nhật Bản như thế nào?
Chương trình Kỹ thuật viên yêu cầu ứng viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học tại Việt Nam, có sức khỏe tốt và trình độ tiếng Nhật từ N4 trở lên, làm việc trong các ngành kỹ thuật chuyên sâu (cơ khí, công nghệ ô tô, IT, xây dựng) với mức thu nhập cao. Chương trình Thực tập sinh kỹ năng dành cho lao động phổ thông có trình độ từ cấp 2 trở lên, độ tuổi 18–30, làm việc trong các ngành chế biến thực phẩm, mộc xây dựng, may mặc, với mức tiết kiệm sinh hoạt phí 400–600 USD/tháng trong năm đầu và thu nhập 700–1.000 USD/tháng khi chuyển sang giai đoạn thực tập sinh kỹ thuật.
5. Lao động Việt Nam làm việc tại thị trường Lào có những đặc điểm gì về mô hình phái cử và thu nhập?
Lao động Việt Nam tại Lào hoạt động chủ yếu theo các dự án đầu tư trực tiếp, nhận thầu công trình của các doanh nghiệp Việt Nam (như Hoàng Anh Gia Lai, Tập đoàn Cao su, Tập đoàn Sông Đà) hoặc đi làm việc thời vụ tại các tỉnh có chung biên giới. Thu nhập bình quân của lao động phổ thông đạt khoảng 250 USD/tháng và lao động kỹ thuật đạt khoảng 500 USD/tháng, được bảo đảm đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thu Huyền đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và bức tranh thực tiễn về hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn 2001–2014. Nghiên cứu chỉ ra vai trò quan trọng của XKLĐ trong việc giải quyết việc làm, giảm áp lực ngân sách tạo việc làm trong nước và tạo nguồn thu ngoại tệ ổn định từ 1,6 đến 2,2 tỷ USD mỗi năm. Đồng thời, công trình làm rõ những thách thức về chất lượng tay nghề, tác phong công nghiệp và tình trạng lao động cư trú bất hợp pháp tại các thị trường trọng điểm. Hệ thống giải pháp được đề xuất cung cấp các luận cứ thực tiễn có giá trị cho công tác hoạch định chính sách và quản trị doanh nghiệp phái cử nhân lực.