chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hòa hóa mã số thuế). Với cách hiểu như vậy, nông sản bao gồm các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như: Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản (lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, động vật sống, …), các sản phẩm phái sinh (bánh mỳ, bơ, dầu ăn,…), các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp (bánh kẹo, xúc xích, bia,…). Theo các tài liệu và giáo trình của Việt Nam thì nông sản được hiểu là sản phẩm của ngành nông nghiệp. Nông nghiệp thực hiện những công việc gì thì có những dòng sản phẩm đó.
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi. Còn hiểu theo nghĩa rộng thì ngành nông nghiệp còn bao trùm cả lâm nghiệp và thủy sản. Các khái niệm nêu trên có một điểm chung đó là đều nêu ra nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm về hàng nông sản giữa WTO và Việt Nam vẫn có sự khác biệt.
Theo sự phân chia có tính chất tương đối của Việt Nam, nông sản là sản phẩm của: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp. Còn theo khái 6 niệm của WTO thì nông sản lại không bao gồm các sản phẩm thuộc lĩnh vực thủy sản và lâm nghiệp. Đặc điểm của hàng nông sản 1. Hàng nông sản mang tính khu vực rất rõ rệt Nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế sinh vật mà cao hơn nữa là một ngành kinh tế sinh vật- sinh thái.
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn không gian rộng lớn và theo một khoảng thời gian nhất định. Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc thù và có rất nhiều điểm khác biệt so với các ngành sản xuất vật chất khác, ví dụ như công nghiệp. Đây là một ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự nhiên như: khí hậu, đất đai, địa hình, thổ nhưỡng,… Sự tổng hòa của các yếu tố tự nhiên tạo nên những nét riêng biệt của mỗi vùng kinh tế. Và lại, quy luật sinh trưởng và phát triển của các đối tượng trong sản xuất ngành nông nghiệp là không giống nhau và chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh.
Do đó, với đặc điểm của từng vùng sẽ phù hợp với những loại giống cây trồng, vật nuôi khác nhau và cho ra kết quả sản xuất, chất lượng hàng nông sản khác nhau. Ví dụ như ở Việt Nam, dựa theo những đặc điểm khác biệt về khí hậu, địa hình, đất đai, điều kiện kinh tế- xã hội,…Việt Nam được chia thành bảy vùng kinh tế-sinh thái: Trung du và miền núi Bắc bộ: Địa hình là đồi núi thấp, cao nguyên, đất feralit đỏ vàng, đất phù sa cổ bạc màu, khí hậu cận nhiệt đới, mùa đông lạnh ,…và điều kiện kinh tế- xã hội còn nhiều khó khăn. Đây là vùng đất tiềm năng phát triển các loại cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới (chè, hồi,…), cây ăn quả, cây dược liệu, lạc,… Đồng bằng sông Hồng: Đồng bằng châu thổ có nhiều ô trũng, đất phù sa màu mỡ, có mùa đông lạnh,…và kinh tế- xã hội phát triển mạnh mẽ. Với những đặc điểm đó, đồng bằng sông Hồng phù hợp trồng các loại cây như: lúa cao sản có chất lượng cao, cây thực phẩm (cây ăn quả, các loại rau,…),… Bắc Trung Bộ: Đồng bằng hẹp, đồi núi, đất phù sa, đất feralit, chịu ảnh hưởng của gió Lào, hay xảy ra thiên tai, …Với đặc điểm tự nhiên như vậy, đây là vùng trồng phổ 7 biến các loại cây công nghiệp hàng năm (lạc, mía, thuốc lá,…) và các loại cây công ghiệp lâu năm (cà phê, cao su).
Duyên hải Nam Trung Bộ: Với đặc điểm là đồng bằng hẹp, khá màu mỡ, dễ bị hạn hán về mùa khô, …thì đây là vùng kinh tế phù hợp với các loại cây như: mía, thuốc lá, dừa, lúa,… Tây Nguyên: Nhiều cao nguyên badan rộng lớn và có độ cao khác nhau, có hai mùa mưa, khô rõ rệt,….Đây là khu vực nông nghiệp cổ truyền với các loại cây trồng như: chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, dâu tằm, … Đông Nam Bộ: Nhiều đất badan và đất phù sa cổ, thiếu nước về mùa khô,… phù hợp để phát triển các loại cây trồng lâu năm (cà phê, cao su, điều) và các loại cây ngắn ngày (đậu tương, mía),… Đồng bằng sông Cửu Long: Các dải phù sa ngọt, các vùng đất phèn, đất mặn, các vùng rừng ngập mặn,…. Đây là khu vực đồng bằng chuyên môn hóa sản xuất các loại cây công nghiệp ngắn ngày (mía, đay, cói, đậu tương), lúa nước, cây ăn quả nhiệt đới,…của nước ta. Như vậy có thể nói, ngành nông nghiệp hay hàng nông sản có tính khu vực cao. Qúa trình sản xuất, thu hoạch hàng nông sản có tính thời vụ cao Qúa trình sản xuất và thu hoạch hàng nông sản có những đặc điểm nổi bật và đặc thù.
Một mặt, quá trình tái sản xuất mặt hàng nông sản là quá trình tái sản xuất tự nhiên có thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ nhưng lại không hoàn toàn trùng khớp. Mặt khác, đối tượng tạo ra các loại hàng nông sản là các cơ thể sống, chúng có quá trình sinh sôi, phát triển không giống nhau và phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự nhiên. Chính vì những lí do trên đã tạo ra tính mùa vụ trong sản xuất và thu hoạch hàng nông sản. Hầu hết các mặt hàng nông sản được sản xuất và thu hoạch theo mùa vụ, tập trung vào những khoảng thời gian nhất định trong năm.
Với đặc tính sinh trưởng và phát triển của mình, mỗi loại cây trồng được lựa chọn để trồng vào các vụ thích hợp trong năm. Cũng tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của từng thời vụ trong năm mà các loại giống cây trồng có những đòi hỏi về việc chăm sóc, bảo quản khác nhau, và từ đó cho ra sản lượng, chất lượng mặt hàng nông sản cũng rất khác nhau. Do 8 đó, tùy theo đặc điểm tự nhiên, lịch sử, kinh tế- xã hội của mỗi nước, mỗi vùng mà quá trình sản xuất, thu hoạch nông sản có thể được chia theo các mùa vụ khác nhau. Ở Việt Nam, theo lĩnh vực nông nghiệp, một năm thường được chia thành ba vụ: vụ đông (vụ màu), vụ hè thu (vụ mùa) và vụ xuân (vụ chiêm).
Đối với vụ xuân, thời gian từ tháng Giêng đến đầu tháng 5 Âm lịch. Đối với vụ hè thu, thời gian vào khoảng giữa tháng 5 đến đầu tháng 10 Âm lịch hàng năm. Phù hợp với các giống có thời gian sinh trưởng từ 105-115 ngày. Đối với vụ đông, thời gian bắt đầu gieo trồng từ đầu tháng 10 Âm lịch hàng năm.
Tùy thuộc vào thời gian sinh trưởng của từng loại giống cây trồng và mục đích sản xuất để lựa chọn thời gian gieo hạt phù hợp. Đây là thời điểm gối vụ giữa vụ hè thu và vụ xuân. Đối tượng tạo ra hàng nông sản là cơ thể sống Hàng nông sản phần lớn được tạo ra từ cây trồng và vật nuôi, đây đều là những cơ thể sống. Các đối tượng này sinh trưởng, phát triển theo quy luật sinh học do đó rất nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh.
Bất kì sự biến đổi nào về môi trường tự nhiên đều tạo nên những ảnh hưởng tốt hoặc không tốt cho quá trình phát triển của các cơ thể sống. Do được tạo ra từ cây trồng, vật nuôi nên hàng nông sản khi thu hoạch cũng mang tính tươi sống. Với đặc tính này, hàng nông sản rất dễ bị ẩm, mốc, biến chất, biến màu,…Chính vì vậy, người nông dân và các doanh nghiệp cần phải đặc biệt quan tâm đến khâu sản xuất, bảo quản, chế biến nông sản. Hàng nông sản chịu ảnh hưởng nhiều từ các yếu tố tự nhiên: thời tiết, khí hậu, đất đai,… Đối tượng sản xuất ra hàng nông sản là các cơ thể sống có vòng đời sinh trưởng và phát triển tự nhiên.
Từng loại giống cây trồng, các bộ phận và quá trình sinh lí của cây sẽ phát triển thích hợp và an toàn ở một điều kiện nhất định. Trong chu kì sinh trưởng của mình, nếu các điều kiện tự nhiên như: đất đai, nhiệt độ, khí hậu, ánh sáng, lượng mưa,… phù hợp với con giống thì cây trồng sẽ sinh trưởng, phát triển tốt, từ đó cho ra vụ mùa bội thu với năng xuất và chất lượng hàng nông sản cao. Ngược lại, nếu các yếu tố tự nhiên không thuận lợi, ví dụ như: thiên tai xảy ra liên tiếp, hạn hán kéo 9 dài,… sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình hoàn thành chu kì sinh trưởng. Khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi, cây trồng đòi hỏi sự chăm sóc cao hơn, kĩ lưỡng hơn nhưng lại thường cho ra kết quả không cao.
Nói cách khác, điều kiện tự nhiên và năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản có quan hệ cùng chiều. Căn cứ vào đặc tính này, những người thực hiện quá trình thâm canh, sản xuất nông sản cần phải hiểu rõ đặc tính của cây trồng, đồng thời nắm vững các biện pháp kĩ thuật gieo trồng, thu hoạch trong các trường hợp khác nhau để cây trồng phát triển thuận lợi và mang lại kết quả lao động cao. Nông sản rất phong phú, đa dạng về chủng loại và chất lượng Một đặc tính không thể không kể đến khi nói về hàng nông sản đó là sự đa dạng, phong phú về chủng loại và chất lượng. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp đã tạo nên sự đa dạng cho sản phẩm nông nghiệp.
Nếu như trước đây chỉ có một số các mặt hàng nông sản thiết yếu phục vụ nhu cầu sống của con người như: gạo, ngô, khoai, sắn,… thì giờ đây đã có thêm rất nhiều các sản phẩm nông sản khác. Với mỗi loại sản phẩm thì lại bao gồm rất nhiều dòng sản phẩm khác nhau. Chẳng hạn, chỉ riêng mặt hàng gạo, trên thị trường thế giới hiện nay đã có tới sáu loại gạo chính và mỗi loại lại có thể chia thành các nhóm khác nhau. Hay như tại Việt Nam, gạo cũng được chia thành nhiều loại như: gạo nở (nở mềm, nở 404, sa-mơ,…), gạo dẻo (thơm Lài, ngỗng vàng, tám xoan, nàng hoa,…), gạo nếp (nếp lá, nếp ngỗng, nếp bắc hoa vàng,…), gạo tấm (tấm thơm, tấm tài nguyên, tấm cơm,…),….
Mỗi một loại sẽ mang một đặc tính riêng và phù hợp với từng thị trường. Kinh tế - xã hội ngày càng phát triển kéo theo sự tăng lên về nhu cầu của người tiêu dùng.