Chương 1: Cơ sở ly luận va thực tiễn về hoạt động xuất khâu cà phê của Việt Nam sang thị trường EU. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Tác động của EVFTA đến hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang EU. Chương 4: Giải pháp thúc day xuất khâu ca phê Việt Nam sang EU trong bối cảnh thực thi EVFTA. CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE HOAT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CUA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tổng quan về tác động của FTA đến nền kinh tế Việt Nam Nghiên cứu về tác động của FTA đối với nền kinh tế Việt Nam, nhìn chung hầu hết các nghiên cứu vé các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia đều chỉ ra tac động tích cực của FTA đối với sự phát triển kinh tế, đây mạnh các hoạt động thương mại, sản xuất giữa các quốc gia.
Bùi Thành Nam (2014) chỉ ra rằng, việc ký kết các hiệp định thương mại tự do là xu hướng của hội nhập toàn cầu, chiếm 85% các hình thức hội nhập kinh tế, vừa có tác động tích cực và vừa có tác động tiêu cực đối với nền kinh tế quốc gia. Tổng thé bức tranh hội nhập các FTA mà Việt Nam đã tham gia trong đó bài nghiên cứu của Võ Trí Thành (2009) đã nhìn nhận tình hình hội nhập các FTA của Việt Nam tham gia. Cassing và cộng sự (2010) cũng đã tổng hợp tất cả các FTA mà Việt Nam cho đến năm 2010 để cung cấp một bức tranh tông thể về tình hình tham gia FTA của Việt Nam. Nguyễn Anh Thu và cộng sự (2015) với nghiên cứu định lượng tác động các hiệp định trong khuôn khổ ASEAN dé thấy được vai trò của cộng đồng kinh tế ASEAN đối với Việt Nam.
Bắt kịp xu hướng toàn cầu hóa nam bắt các cơ hội dé phát triển, Việt Nam đã ký kết hiệp định thương mại tự do ASEAN vào thang 1 năm 1996 ngay sau khi gia nhập ASEAN năm 1995. Bên cạnh đó, việc gia nhập WTO vào năm 2007 được coi như bước ngoặt giúp Việt Nam dần khắng định vị thế trên thị trường quốc tế. Nhìn chung với 16 hiệp định thương mại tự do FTA đã ký và đang chuẩn bị ký cho thấy sự sôi nổi của việc tham gia các FTA của Việt Nam. Có rất nhiều nghiên cứu tập trung đánh giá về các FTA lớn như EVFTA, CPTPP những FTA với những đối tác lớn dem lại những tác động to lớn đối với Việt Nam.
Nghiên cứu về tác động của AFTA có các nghiên cứu của Bộ Công Thuong (2009) với dự án MUTRAP III đã miêu tả nội dung và yếu tô cốt lõi trong hiệp định AFTA, qua đó định lượng tác động của hiệp định này tới nền kinh tế của Việt Nam. EU là một thị trường tiềm năng cho hoạt động xuất khâu của Việt Nam. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2019) chỉ ra việc thực thi các EVFTA không chỉ tạo động lực cho kinh tế Việt Nam phát triển, hội nhập kinh tế mạnh mẽ mà còn làm gia tăng vai trò, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên việc thực hiện EVFTA có tác động hai chiều đến việc thu ngân sách nhà nước đó là gia tăng do nguồn thu đến từ hoạt động thương mại, đầu tu và tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên nguồn thu nhà nước cũng bị giảm đáng ké do giảm thuế xuất nhập khâu.
Cũng trong năm 2019, Nghiêm Xuân Khoát và cộng sự đã phân tích về cơ hội và thách thức của Việt Nam trong một số lĩnh vực liên quan đến các hiệp định thương mại hàng hóa nói chung, xuất khâu của Việt Nam sang EU nói riêng cùng với đó là các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch thực vật, các rào cản kỹ thuật đối với thương mại, phòng vệ thương mai, đầu tư, sở hữu trí tuệ và phát trién bền vững. Dé có thé tận dụng các lợi thé từ việc ký kết EVFTA, Ban Chi đạo 35 Bộ Công Thương (2020) đã chỉ ra rất nhiều cơ hội cho xuất khâu khi EVFTA có hiệu lực như kích thích năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường, tạo cơ hội tham gia chuỗi cung ứng khu vực. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra những thách thức cho Việt Nam và định hướng cho các doanh nghiệp tận dụng ưu đãi của các chính sách trong phạm vi được áp dụng của EVFTA mang lại. Tuy nhiên để được áp dụng các chính sách ở mức tối ưu nhất đòi hỏi các doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu nội dung của EVFTA, đặc biệt là các cam kết liên quan tới thuế quan và quy tắc xuất xứ, đảm bảo hàng hóa khi xuất khâu đáp ứng các tiêu chuẩn đối tác đặt ra, tạo uy tín và thương hiệu trên thị trường.
Việc Việt Nam tham gia FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn điện và tiễn bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là một yếu tô đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Việt Nam. Theo Báo cáo của Tổng cục thống kê 2018, GDP tăng 7,08% cả năm, đây là mức cao nhất ké từ 2008. Không chỉ vậy còn mở ra nhiều cơ hội tiềm năng cho Việt Nam giao lưu, cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Lê Quang Thuận (2019) đã chỉ ra răng việc ký kết các hiệp định FTA thế hệ mới sẽ có tác động lớn tới nền kinh tế Việt Nam thông qua việc mở rộng thị trường xuất khẩu, nhất là đối với các mặt hàng cả hai bên cùng có lợi thế như các mặt hàng về nông — lâm — thủy sản, dệt may,.Cùng với đó, Trần Thị Trang và cộng sự (2019) đã chứng minh tầm quan trọng của các FTA thế hệ mới đối với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, cụ thé FTA thế hệ mới sẽ mang lại nhiều lợi ích đối với các quốc gia thành viên trong việc bình dang và thu hút các vốn đầu tư, nhận những ưu đãi mà chỉ nước thành viên mới có.
Tuy nhiên, doanh nghiệp và chính phủ cũng phải dam bảo về chất lượng, cơ sở hạ tang, cũng như thường xuyên nâng cao chất lượng sản phâm dich vụ, năng suất,. dé đáp ứng nhu cầu của thị trường. Nghiên cứu về tác động của EVFTA đến hoạt động xuất khâu của Việt Nam, Vũ Thanh Hương (2018) đã nêu lên được các cơ sở lý luận sâu sắc về FTA, những tác động của EVFTA đến thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và EU, nhận diện những nhóm ngành và thị trường hưởng lợi từ EVFTA (trong đó có cà phê), đồng thời đề xuất các hàm ý cho nhà nước và doanh nghiệp để tận dụng được các cơ hội được hiệp định mang lại, bên cạnh đó xây dựng phương án vượt qua khó khăn, thách thức để đảm bảo điều kiện hưởng các ưu đãi từ EVFTA. Tuy nhiên, vì sự đa dạng trong các loại hang hóa nên đề tài vẫn chưa đưa ra những tác động cụ thé của EVFTA tới xuất khâu cà phê nói chung mà mới chỉ đi sâu vào hai nhóm hang là dệt may va dược phẩm.
Nhìn chung đây cũng là nghiên cứu tập trung vào việc phân tích tác động tiềm tàng của EVFTA. Bộ Công Thương đã mô tả tổng quan của xuất khâu nông sản Việt Nam sang EU trong chủ đề Chuyên san EVFTA với Thương mại Việt Nam — chuyên ngành Nông sản quỷ IV/2021, trong đó khang định cà phê là mặt hàng tận dụng được nhiều lợi thé từ EVFTA, cùng với nhu cau tiêu thụ cà phê tại các nước này liên tục tăng do nhu cầu cao từ các ngành công nghiệp chế biến thực pham và nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của người dân, cho thấy triển vọng khả quan của cà phê xuất khâu trong năm 2022. Chủ đề nghiên cứu cũng đưa ra những đánh giá, nhận định dưới góc nhìn tận dụng các ưu đãi về thuế quan EVFTA và các quy định về xuất xứ hàng hoá. Tuy nhiên hiện tại chủ đề vẫn chưa đi sâu nghiên cứu những tác động cụ thé của EVFTA tới xuất khâu cà phê của Việt Nam.
Nguyễn Đức Thành & cộng sự (2021) đã phân tích rõ ràng những thay đôi của kinh tế Việt Nam nói chung và chuyền dich cơ cau hàng hóa xuất khâu của Việt Nam nói riêng sau một năm thực thi EVFTA. Báo cáo cũng đưa ra được những tác động cụ thê của EVFTA tới xuất khâu hàng hoá Việt Nam, đây là cơ sở đề đi sâu phân tích tác động của EVFTA tới xuất khâu cà phê của Việt Nam. Ngô Thị Hồng Hạnh (2022) đã chỉ ra được với các mặt hàng nông sản là thế mạnh của Việt Nam, các cam kết trong EVFTA mang lại cơ hội mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu ra quốc tế. Bài nghiên cứu đã phân tích các cơ hội và thách thức do EVFTA mang lại cho ngành nông sản Việt Nam, dựa trên cơ sở phân tích đó, bài viết cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm tận dụng cơ hội dé tháo gỡ khó khăn trong xuất khẩu nông sản Việt Nam sang EU.
Nguyễn Bảo Ngọc và cộng sự (2023) đã xem xét vai trò của EVFTA cũng như những hạn chế cản trở xuất khẩu của Việt Nam sang EU ké từ khi EVFTA có hiệu lực. Theo đó EVFTA có tác động đáng kê đến xuất khâu của Việt Nam sang EU, tạo cơ hội cho Việt Nam mở rộng xuất khẩu, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị đối với Chính Phủ, các Bộ, Ban ngành và các doanh nghiệp có hoạt động xuất khâu sang EU.2 Tổng quan nghiên cứu về xuất khẩu cà phê của Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hiền và Dương Thị Thu Hương (2021) đã phân tích về tình hình xuất khẩu nông sản Việt Nam sang EU trong giai đoạn 2016-2020, tìm hiểu được những khó khăn và những vấn đề đặt ra với hoạt động xuất khâu nông sản sang EU và đề xuất các chính sách thúc day xuất khâu nông sản sang thị trường này. Trong bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng EU là thị trường lớn của cà phê Việt Nam chiếm trên 23% trong tổng lượng và tổng lượng kim ngạch xuất khâu của Việt Nam với kim ngạch xuất khâu khá 6n định. Tuy nhiên, bài nghiên cứu chi dừng lại ở phân tích thực trạng của xuất khẩu nông san nói chung của Việt Nam sang EU chứ không đi sâu mô ta chi tiết các nhóm hàng xuất khẩu.