Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất - Thực tiễn tại Cần Thơ

Chuyên khảo phân tích Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất từ thực tiễn thành phố cần thơ, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

55
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HÀNH VI LẤN ĐẤT

1.1. Khái niệm lấn đất, vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất

1.1.1. Khái niệm lấn đất

1.1.2. Khái niệm vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất

1.2. Quy định pháp luật về các nhóm hành vi vi phạm hành chính cụ thể về lấn đất

1.3. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất

1.4. Những vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật về đối tượng bị xử phạt và mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HÀNH VI LẤN ĐẤT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

2.1. Những vướng mắc từ thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất và kiến nghị hoàn thiện

2.2. Vấn đề giao quyền trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất từ thực tiễn Thành phố Cần Thơ

2.3. Những vướng mắc, bất cập về thẩm quyền áp dụng biện pháp buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm với hành vi lấn đất từ thực tiễn Thành phố Cần Thơ

2.4. Một số bất cập, vướng mắc khác và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt

I. Khám Phá Sâu Sắc Thực Tiễn Xử Phạt Lấn Đất Tại Cần Thơ Hiện Nay 59

Đất đai, một tài sản quý giá của quốc gia, luôn đóng vai trò thiết yếu trong đời sống kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và hội nhập, các hành vi vi phạm đất đai, đặc biệt là lấn đất, ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi một khung pháp lý vững chắc và công tác quản lý chặt chẽ. Từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luật Đất đai 2013 và các văn bản dưới luật đã liên tục được điều chỉnh nhằm phù hợp với bối cảnh mới. Trong đó, Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính đất đai đã ra đời, kế thừa và khắc phục nhiều hạn chế của Nghị định 102/2014/NĐ-CP, tạo hành lang pháp lý quan trọng để phát hiện và xử lý các hành vi sai phạm.

Tại Thành phố Cần Thơ, tình trạng lấn đất diễn ra khá phổ biến, đặc biệt tại các khu vực nông nghiệp và đất chưa sử dụng, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các vụ vi phạm hành chính đất đai. Điều này không chỉ gây ảnh hưởng đến công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất sai mục đích mà còn tiềm ẩn nhiều tranh chấp đất đai phức tạp. Việc tìm hiểu thực tiễn áp dụng tại Cần Thơ về xử phạt lấn đất là cần thiết để đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật và đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Bài viết này sẽ cung cấp cái nhìn tổng thể về các quy định hiện hành, những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi và những kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử phạt lấn đất tại địa bàn. Mục tiêu chính là làm rõ các khái niệm, phân loại hành vi, đồng thời phân tích những bất cập trong quy định về đối tượng, mức phạt lấn đất và thẩm quyền xử phạt, đặc biệt là các biện pháp khắc phục hậu quả lấn đất từ góc độ thực tiễn.

1.1. Khái Niệm Lấn Đất Hướng Dẫn Hiểu Đúng Theo Quy Định Pháp Luật 59

Trong lĩnh vực pháp lý, khái niệm lấn đất đã có sự phát triển qua các thời kỳ. Theo Từ điển Tiếng Việt, 'lấn' được hiểu là hành vi 'chen vào chỗ khác, mở rộng cả phạm vi một cách bất chính'. Ban đầu, thuật ngữ này chưa được dẫn giải rõ ràng trong các văn bản Luật Đất đai trước năm 2013. Mãi đến Nghị định 102/2014/NĐ-CP, tại khoản 1 Điều 3, lấn đất được định nghĩa là 'việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới đất để mở rộng diện tích đất'. Tuy nhiên, khái niệm này còn nhiều tranh cãi về tính chuẩn xác, đặc biệt khi hành vi đó có sự đồng thuận từ chính quyền hoặc người sử dụng đất hợp pháp.

Để khắc phục hạn chế này, Nghị định 91/2019/NĐ-CP đã hiệu chỉnh lại tại khoản 1 Điều 3, quy định: 'Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép'. Mặc dù đã có sự cải thiện, thực tiễn áp dụng tại Cần Thơ vẫn cho thấy 'điểm mờ' nhất định. Nhiều quan điểm cho rằng, việc người sử dụng đất hợp pháp cho phép lấn đất chưa hẳn là phù hợp, vì họ chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền công nhận quyền sử dụng đất cho chủ thể khác. Để đảm bảo tính tường minh và chặt chẽ, một khái niệm lấn đất được đề xuất cần nhấn mạnh yếu tố 'tự ý chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới đất nhằm mở rộng diện tích đất sang phần đất đã được công nhận quyền sử dụng hay diện tích đất do Nhà nước quản lý mà không cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép mở rộng diện tích đất sử dụng', nhằm đảm bảo tính chính xác trong công tác xử phạt lấn đất.

1.2. Phân Loại Hành Vi Lấn Đất Chi Tiết Các Nhóm Vi Phạm Tại Cần Thơ 60

Nghị định 91/2019/NĐ-CP đã phân chia các hành vi vi phạm hành chính đất đai liên quan đến lấn đất thành sáu nhóm cụ thể, giúp các cơ quan chức năng Cần Thơ có cơ sở rõ ràng hơn trong việc xử phạt lấn đất.

Nhóm thứ nhất: Lấn đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn, thường do Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quản lý. Đây là nhóm khó xác định do ranh giới không rõ ràng. Mặc dù có mức phạt thấp nhất, hành vi này vẫn phổ biến do thiếu cắm mốc ranh giới.

Nhóm thứ hai và thứ ba: Lấn đất nông nghiệp. Nhóm thứ hai bao gồm đất không phải đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất. Nhóm thứ ba tập trung vào đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất, nơi mức phạt lấn đất được ấn định cao hơn do tầm quan trọng của loại đất này. Tuy nhiên, thực tế cho thấy mức phạt tối đa 150 triệu đồng cho hành vi lấn trên 1 hecta rừng vẫn chưa đủ sức răn đe, như các trường hợp tại Đăk Nông cho thấy, tỷ lệ đất bị lấn chiếm rừng chiếm tỷ trọng cao. Ngoài ra, đất mặt nước ven biển bị lấn chiếm chưa thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của Nghị định, tạo ra 'khoảng trống pháp lý'.

Nhóm thứ tư: Lấn đất phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn. Hành vi này liên quan đến việc mở rộng diện tích đất sử dụng cho mục đích chịu thuế phi nông nghiệp mà không được phép. Vấn đề phát sinh khi ranh giới thay đổi nhưng không chênh lệch với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gây khó khăn trong xử lý.

Nhóm thứ năm: Lấn đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị. Hành vi này có chế tài hành vi lấn chiếm đất cao gấp đôi so với khu vực nông thôn, thể hiện sự coi trọng đặc biệt đối với đất đô thị. Tuy nhiên, quy định về mức phạt tối đa không quá 500.000 đồng đối với cá nhân tại khu vực đô thị đôi khi lại không tạo ra sự khác biệt đáng kể so với nông thôn ở một số trường hợp, gây bất cập trong việc áp dụng.

Nhóm thứ sáu: Lấn đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình và đất công trình có hành lang bảo vệ, đất trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp. Các hành vi này được điều chỉnh tản mác trong nhiều nghị định chuyên ngành khác nhau, gây khó khăn cho việc tra cứu và áp dụng thống nhất. Việc thiếu một văn bản tổng hợp quy định về xử phạt lấn đất trong mọi trường hợp, cùng với sự khác biệt về cách quy ước diện tích (hecta so với mét vuông), đã tạo ra những thách thức đáng kể trong công tác quản lý và xử phạt lấn đất.

II. Vấn Đề Nan Giải Thực Tiễn Xử Phạt Lấn Đất Bất Cập Tại Cần Thơ 59

Thực trạng áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất tại Cần Thơ đã bộc lộ nhiều vướng mắc và bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý đất đai. Mặc dù Nghị định 91/2019/NĐ-CP đã cố gắng điều chỉnh các quy định, những điểm 'mờ' trong cách phân định hành vi, xác định đối tượng và áp dụng chế tài vẫn là thách thức lớn đối với cơ quan chức năng Cần Thơ.

Theo thống kê năm 2020, Thành phố Cần Thơ ghi nhận 1328 vụ vi phạm hành chính đất đai, trong đó lấn chiếm đất chiếm 318 vụ việc. Đa phần các vi phạm tập trung vào diện tích đất nông nghiệp bị lấn chiếmđất chưa sử dụng, chiếm tới 89% tỷ lệ xử phạt vi phạm hành chính. Những con số này phản ánh mức độ nghiêm trọng của vấn đề và sự cần thiết phải có những giải pháp toàn diện. Các bất cập không chỉ tồn tại ở khía cạnh lý luận mà còn thể hiện rõ trong quá trình thực thi pháp luật, từ việc xác định chính xác hành vi, đối tượng bị xử phạt cho đến việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả lấn đất và thẩm quyền xử phạt. Việc không phân định rõ ràng các khái niệm và thiếu hướng dẫn cụ thể đã gây ra tình trạng lúng túng, thiếu thống nhất trong công tác xử lý vi phạm, làm giảm tính răn đe và hiệu lực của pháp luật. Những thách thức này đòi hỏi phải có sự nhìn nhận nghiêm túc và các kiến nghị hoàn thiện kịp thời để đảm bảo công bằng và hiệu quả trong quản lý đất đai tại Thành phố Cần Thơ.

2.1. Thách Thức Xác Định Lấn Đất Chiếm Đất Tái Lấn Chiếm Tại Cần Thơ 60

Một trong những vướng mắc lớn trong thực tiễn áp dụng pháp luật tại Cần Thơ là việc chưa phân định rõ ràng giữa hành vi lấn đấtchiếm đất. Mặc dù Luật Đất đai 2013 và các nghị định đã có định nghĩa riêng, trên thực tế, hai hành vi này thường được gộp chung thành 'lấn chiếm đất' trong các biên bản và thống kê xử phạt vi phạm hành chính đất đai. Lý do chính là vì Nghị định 91/2019/NĐ-CP ấn định mức phạt lấn đất và chiếm đất tương đồng, khiến việc phân biệt trở nên không mang nhiều ý nghĩa thực tiễn đối với cơ quan thừa hành.

Bên cạnh đó, khái niệm về đất côngđất công cộng cũng chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật, gây khó khăn cho việc xác định hành vi lấn đất công so với lấn đất của cá nhân. Đất công có phạm vi rộng hơn, bao gồm đất công cộng, đất quốc phòng, an ninh, đất chưa sử dụng, v.v., trong khi đất công cộng thường chỉ là đất phục vụ mục đích chung như đường, công viên. Sự nhập nhằng này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định mức phạt lấn đất và thẩm quyền xử lý, vì tính chất và hậu quả của việc lấn đất công thường nghiêm trọng hơn. Thực trạng tái lấn chiếm đất, đặc biệt là tại các dự án đã được bồi thường giải phóng mặt bằng, cũng chưa được Nghị định 91/2019/NĐ-CP điều chỉnh rõ ràng. Các trường hợp xây dựng trái phép trên đất lấn chiếm sau khi đã bị xử lý vẫn tiếp diễn, như ví dụ tại đường dẫn Cầu Cần Thơ, nơi người dân tái lấn chiếm hành lang lộ giới để xây dựng nhà ở, công trình kinh doanh, trồng trọt. Sự chồng chéo giữa Nghị định 91/2019/NĐ-CP và Nghị định 11/2010/NĐ-CP (về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ) đã khiến chính quyền địa phương gặp khó khăn trong việc cưỡng chế thu hồi đất và xử lý triệt để hành vi tái lấn chiếm đất này.

2.2. Bất Cập Mức Phạt Đánh Giá Chế Tài Lấn Đất Trong Thực Tế Cần Thơ 60

Mặc dù Nghị định 91/2019/NĐ-CP đã đưa ra các quy định cụ thể về mức phạt lấn đất, thực tiễn áp dụng pháp luật tại Cần Thơ cho thấy vẫn còn nhiều bất cập, làm giảm tính răn đe của chế tài hành vi lấn chiếm đất. Mức phạt thấp nhất từ 2.000 đồng và cao nhất là 1.000 đồng cho cá nhân (tùy diện tích và loại đất) được đánh giá là chưa đủ sức nặng, đặc biệt khi so sánh với khoản 1 Điều 34 của Nghị định này, nơi hành vi di chuyển mốc giới không nhằm mục đích sử dụng lại có mức phạt tương đối thấp hơn.

Vấn đề đáng chú ý là sự tương đồng về mức phạt lấn đấtchiếm đất. Theo Nghị định 91/2019/NĐ-CP, hai hành vi này có mức phạt lấn đất như nhau, từ 2.000 đồng đối với diện tích dưới 0,05 ha. Tuy nhiên, về bản chất, hành vi chiếm đất (tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước cho phép) thường có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với lấn đất (chuyển dịch mốc giới để mở rộng diện tích sử dụng). Việc đánh đồng chế tài hành vi lấn chiếm đất giữa hai hành vi này là chưa thích đáng, không phản ánh đúng mức độ vi phạm và không tạo đủ sự răn đe cần thiết. Điều này cũng gây khó khăn cho việc phân định rõ ràng trong công tác xử phạt lấn đất, dẫn đến sự thiếu công bằng. Ngoài ra, việc quy ước diện tích tính phạt theo hecta tại Nghị định 91/2019/NĐ-CP không phù hợp với thực tế canh tác nhỏ lẻ, manh mún (thường dưới 1000 m2) tại Việt Nam, bao gồm cả Cần Thơ. Việc không có quy định rõ ràng về thời hiệu xử phạt lấn đất hay việc đền bù lấn chiếm đất cũng làm phức tạp thêm quá trình xử lý, khiến cho việc áp dụng pháp luật trở nên thiếu nhất quán và khó khăn trong việc đạt được mục tiêu răn đe và giáo dục.

Một bất cập khác là quy định về mức phạt lấn đất tại khu vực đô thị cao gấp đôi so với nông thôn nhưng lại khống chế tối đa không quá 500.000 đồng (đối với cá nhân), dẫn đến việc trong một số trường hợp, mức phạt giữa đô thị và nông thôn không có sự khác biệt, làm mất đi ý nghĩa của quy định tăng nặng tại khu vực đô thị. Những điểm mờ này đòi hỏi cần có sự hiệu chỉnh để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của các quy định pháp luật về đất đai trong việc xử phạt lấn đất.

2.3. Vướng Mắc Thẩm Quyền Giao Quyền Xử Phạt Lấn Đất Ở Cần Thơ 59

Việc giao quyền trong công tác xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất tại Thành phố Cần Thơ đã bộc lộ nhiều vướng mắc, gây khó khăn cho cơ quan chức năng Cần Thơ trong việc thực thi pháp luật. Mặc dù Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020) đã có những điều chỉnh về giao quyền, thực tế áp dụng tại các địa phương vẫn còn nhiều 'điểm vênh'.

Thứ nhất, việc giao quyền xử phạt cho cấp phó không được quy định rõ ràng về thời hạn và phạm vi cụ thể, dẫn đến khả năng đùn đẩy trách nhiệm. Tại Cần Thơ, một số đơn vị vẫn lúng túng khi áp dụng quy định này, đặc biệt là ở những khu vực từng xảy ra sai phạm trong quản lý đất đai như quận Bình Thủy. Việc cấp trưởng ban hành quyết định giao toàn quyền cho cấp phó trong thời gian dài (1-3 năm) mà không có giới hạn cụ thể về thời gian trong việc giao thẩm quyền xử phạt lấn đất có thể dẫn đến tình trạng mọi trường hợp xử phạt đều do cấp phó thực hiện, gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm cuối cùng.

Thứ hai, trách nhiệm của người giao quyền (cấp trưởng) khi cấp phó vi phạm pháp luật trong quá trình xử phạt lấn đất chưa được làm rõ. Vụ án sai phạm tại quận Bình Thủy là một minh chứng. Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực UBND quận Bình Thủy cho rằng các quyết định hành chính sai phạm là do được cấp trưởng ủy quyền, nhưng trách nhiệm của người giao quyền lại chưa được quy định tường minh. Điều này tạo ra 'khoảng trống pháp lý', khiến việc quy trách nhiệm trở nên phức tạp và thiếu công bằng.

Thứ ba, việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính phải được thể hiện bằng văn bản. Tuy nhiên, trên thực tế, tại một số đơn vị ở Cần Thơ, việc giao quyền được thực hiện thông qua các hình thức không chính thức như kết luận cuộc họp, thông báo lời nói hoặc công văn, chứ không phải bằng quyết định hành chính có giá trị pháp lý. Điều này gây khó khăn trong việc truy xuất chứng cứ và xác định trách nhiệm khi có sai phạm xảy ra. Mặc dù Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020 đã quy định chặt chẽ hơn về việc giao quyền phải bằng quyết định, thực tiễn vẫn cần thời gian để đồng bộ. Cuối cùng, thẩm quyền xử phạt lấn đất tại một số địa phương như huyện Cờ Đỏ lại được ủy quyền cho Phòng Kinh tế hạ tầng, một cơ quan không được quy định rõ ràng trong Nghị định 91/2019/NĐ-CP về thẩm quyền xử phạt lấn đất, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật.

III. Giải Pháp Tối Ưu Hoàn Thiện Quy Định Xử Phạt Lấn Đất Cần Thơ 60

Để nâng cao hiệu quả công tác xử phạt lấn đất và quản lý đất đai tại Cần Thơ, việc hoàn thiện các quy định pháp luật là vô cùng cấp thiết. Những giải pháp đề xuất cần tập trung vào việc làm rõ các khái niệm, điều chỉnh mức phạt lấn đất và thẩm quyền xử phạt, đồng thời khắc phục những lỗ hổng trong các quy định pháp luật về đất đai hiện hành.

Thực trạng cho thấy, sự nhập nhằng giữa lấn đấtchiếm đất, thiếu định nghĩa rõ ràng về đất công và thách thức trong việc xử lý tái lấn chiếm đất đã tạo ra những rào cản lớn. Việc thống nhất cách hiểu và áp dụng các chế tài hành vi lấn chiếm đất là nền tảng để đảm bảo tính công bằng và hiệu lực của pháp luật. Hơn nữa, việc điều chỉnh mức phạt lấn đất phải phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của từng hành vi, đặc biệt là cần có sự phân biệt rõ ràng hơn giữa lấn đất và chiếm đất, cũng như giữa các loại đất khác nhau.

Việc cải thiện cơ chế giao quyền trong quy trình xử lý lấn chiếm đất cũng là một trọng tâm. Cần có quy định cụ thể về phạm vi, thời hạn và trách nhiệm của người được giao quyền, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và tùy nghi trong việc áp dụng pháp luật. Những giải pháp này không chỉ giúp các cơ quan chức năng Cần Thơ, đặc biệt là Ủy ban nhân dân cấp huyện Cần ThơSở Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ, thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn mà còn góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật đất đai minh bạch, công bằng và có tính răn đe cao. Điều này sẽ củng cố niềm tin của người dân vào pháp luật, khuyến khích việc sử dụng đất đúng mục đích và hạn chế tối đa các vi phạm hành chính đất đai liên quan đến đất đai.

3.1. Hướng Dẫn Rõ Ràng Phân Biệt Các Hành Vi Vi Phạm Đất Đai 60

Để giải quyết tình trạng nhập nhằng trong thực tiễn áp dụng tại Cần Thơ, cần có sự điều chỉnh pháp luật để phân định rạch ròi các hành vi vi phạm đất đai. Thứ nhất, lấn đấtchiếm đất cần có định nghĩa và chế tài hành vi lấn chiếm đất khác nhau. Hành vi chiếm đất với tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn nên có mức phạt lấn đất nghiêm khắc hơn và có thể dẫn đến án lệ lấn đất hình sự. Việc đồng nhất mức phạt hiện nay không phản ánh đúng bản chất vi phạm, cần điều chỉnh để tạo sự công bằng và răn đe hiệu quả.

Thứ hai, cần bổ sung khái niệm rõ ràng về đất công, đất công cộng và phân biệt hành vi lấn đất công với lấn đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình. Điều này sẽ giúp cơ quan chức năng Cần Thơ xác định chính xác đối tượng và thẩm quyền xử phạt lấn đất, tránh tình trạng nhập nhằng trong việc áp dụng quy trình xử lý lấn chiếm đất. Việc tố cáo lấn chiếm đất hoặc khiếu nại hành vi lấn đất cũng sẽ dễ dàng hơn khi các khái niệm được tường minh.

Thứ ba, Nghị định 91/2019/NĐ-CP cần bổ sung quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi tái lấn chiếm đất. Thực tế cho thấy, hành vi này đang diễn ra phổ biến và gây nhiều khó khăn cho chính quyền địa phương. Đồng thời, Nghị định 11/2010/NĐ-CP cũng cần được hiệu chỉnh để làm rõ trường hợp sử dụng 'tạm' hành lang lộ giới, bao gồm thời gian tối đa, đối tượng và điều kiện cụ thể. Việc khắc phục những 'nút thắt' pháp lý này sẽ giúp các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Tài nguyên và Môi trường Cần ThơỦy ban nhân dân cấp huyện Cần Thơ có đủ cơ sở pháp lý để xử lý triệt để, đảm bảo tính nghiêm minh và thống nhất của pháp luật.

3.2. Nâng Cao Hiệu Quả Tối Ưu Mức Phạt Thẩm Quyền Xử Lý Lấn Đất 60

Để thực sự nâng cao hiệu quả xử lý xử phạt lấn đất, cần có những điều chỉnh về mức phạt lấn đấtthẩm quyền xử phạt lấn đất. Thứ nhất, cần điều chỉnh mức phạt lấn đất để phản ánh đúng tính chất và hậu quả của từng hành vi, đặc biệt cần sự phân biệt rõ ràng hơn giữa lấn đấtchiếm đất. Ví dụ, hành vi chiếm đất (tự ý sử dụng đất mà không được phép) có thể bị áp dụng mức phạt lấn đất cao hơn và có các chế tài bổ sung nghiêm khắc hơn, thậm chí chuyển sang xử lý hình sự khi đạt đến mức độ nguy hiểm nhất định. Điều này sẽ tăng cường tính răn đe và đảm bảo công bằng.

Thứ hai, cần chuẩn hóa các quy định về đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính đất đai tại Nghị định 91/2019/NĐ-CP để đồng nhất với Luật Xử lý vi phạm hành chính. Đặc biệt, cần làm rõ việc xác định hộ gia đình, cộng đồng dân cư là cá nhân hay tổ chức, từ đó áp dụng mức phạt lấn đất phù hợp. Việc không phân định rõ ràng đã gây ra những tranh cãi và lúng túng trong thực tiễn tại Cần Thơ, khi cùng một hành vi nhưng việc xác định chủ thể lại không thống nhất. Bên cạnh đó, thời hiệu xử phạt lấn đất cần được quy định minh bạch hơn, tránh tình trạng lợi dụng kẽ hở pháp luật để trốn tránh trách nhiệm.

Thứ ba, cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng về việc giao quyền thẩm quyền xử phạt lấn đất của cấp trưởng cho cấp phó. Điều này bao gồm quy định về điều kiện giao quyền (chỉ khi cấp trưởng vắng mặt vì lý do chính đáng), phạm vi, nội dung và đặc biệt là thời hạn giao quyền tối đa. Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm của cả người giao quyền và người được giao quyền để tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm khi xảy ra sai phạm. Việc ủy quyền cho các phòng chuyên môn như Phòng Kinh tế hạ tầng cũng cần được quy định cụ thể trong Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn, đảm bảo tính hợp pháp và thống nhất trên toàn quốc, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện Cần Thơ và các cấp chính quyền khác có đủ thẩm quyền và cơ sở pháp lý để xử lý hiệu quả các hành vi vi phạm đất đai.

IV. Thực Tiễn Áp Dụng Bài Học Kinh Nghiệm Xử Lý Lấn Đất Tại Cần Thơ 60

Thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất tại Thành phố Cần Thơ đã mang lại nhiều bài học quý giá, đồng thời chỉ ra những thách thức cần được khắc phục. Mặc dù Nghị định 91/2019/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan đã cung cấp cơ sở pháp lý quan trọng, việc thực thi tại địa phương vẫn gặp phải nhiều rào cản từ khâu xác định hành vi, đối tượng, mức phạt lấn đất cho đến việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả lấn đất.

Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ và các cấp Ủy ban nhân dân cấp huyện Cần Thơ, tình trạng lấn chiếm đất vẫn diễn biến phức tạp. Các ví dụ điển hình như các vụ việc tại tỉnh lộ 919 (huyện Cờ Đỏ) với 89 hộ dân xây dựng trái phép trên đất lấn chiếm, hay các trường hợp tái lấn chiếm đất tại hành lang an toàn giao thông đường bộ gần Cầu Cần Thơ, đều cho thấy sự thiếu đồng bộ trong quản lý và quy trình xử lý lấn chiếm đất. Việc không có quy định rõ ràng về cưỡng chế thu hồi đất và xử lý tài sản sau cưỡng chế, cùng với việc thiếu cơ quan giám sát độc lập, đã khiến các địa phương lúng túng trong việc thực thi.

Thêm vào đó, việc 'hợp thức hóa' các hành vi lấn đất trên cơ sở Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP cho những trường hợp vi phạm trước ngày 01/7/2014 đã gây ra sự coi thường pháp luật và ảnh hưởng tiêu cực đến ý thức tuân thủ của người dân. Bài học từ Cần Thơ cho thấy, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, cùng với việc hoàn thiện pháp luật để đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng và hiệu quả trong xử phạt lấn đất. Việc tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và áp dụng công nghệ vào quản lý đất đai là những yếu tố then chốt để giải quyết dứt điểm các vấn đề tranh chấp đất đaivi phạm hành chính đất đai.

4.1. Biện Pháp Khắc Phục Thực Trạng Áp Dụng Tại Cần Thơ Và Kiến Nghị 60

Một trong những thách thức lớn nhất trong thực tiễn áp dụng tại Cần Thơ là việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả lấn đất, đặc biệt là 'buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm'. Mặc dù Nghị định 91/2019/NĐ-CP quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quy định mức độ khôi phục, nhưng đến nay, nhiều địa phương, bao gồm cả Cần Thơ, vẫn chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể. Điều này khiến các cấp chính quyền lúng túng khi xử lý các trường hợp xây dựng trái phép trên đất lấn chiếm đã hình thành công trình kiên cố.

Ví dụ tại huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ, các trường hợp lấn đất nông nghiệp bị lấn chiếm và đã xây dựng công trình kiên cố trên tỉnh lộ 919 không thể bị buộc tháo dỡ hoàn toàn và khôi phục nguyên trạng vì thiếu thẩm quyền cưỡng chế thu hồi đất và quy định về 'buộc tháo dỡ công trình'. Việc này dẫn đến tình trạng các vi phạm bị kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quy hoạch và quản lý đất đai. Hơn nữa, việc xác định 'tình trạng ban đầu' của đất cũng rất khó khăn, đặc biệt khi đất đã chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất lúa sang đất xây dựng. Các cơ quan chức năng Cần Thơ thường không đủ cơ sở để xác định diện tích, hình thái, độ cao, độ dốc đất ban đầu để yêu cầu người vi phạm khôi phục.

Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân cấp xã tại Cần Thơ thường chỉ có quyền áp dụng biện pháp 'buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu' mà không có quyền 'buộc trả lại đất đã lấn, chiếm'. Điều này vô hình trung làm vô hiệu hóa thẩm quyền của cấp xã, dẫn đến việc phải chuyển vụ việc lên cấp huyện, gây mất thời gian và giảm hiệu quả xử lý. Thậm chí, khi phát hiện vi phạm trước Luật Đất đai 2013, việc đền bù lấn chiếm đất hoặc chi phí đầu tư vào đất cũng là vấn đề nan giải, thường dẫn đến khiếu nại hành vi lấn đất và khởi kiện kéo dài. Cuối cùng, thiếu cơ quan có chức năng giám sát hoạt động khôi phục tình trạng ban đầu của đất cũng là một trở ngại, khiến việc thi hành các quyết định xử phạt không được đảm bảo đầy đủ.

4.2. Kiến Nghị Hoàn Thiện Định Hướng Pháp Luật Đất Đai Cho Tương Lai Cần Thơ 60

Từ những bất cập trong thực tiễn áp dụng tại Cần Thơ, các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và công tác quản lý đất đai là cần thiết để định hướng pháp luật đất đai trong tương lai. Thứ nhất, cần loại bỏ quy định tại Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP về việc có thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các trường hợp lấn đất nếu có điều chỉnh quy hoạch. Quy định này đã vô hình trung hợp thức hóa vi phạm hành chính đất đai, đi ngược lại nguyên tắc mọi vi phạm phải được xử lý nghiêm minh, ảnh hưởng đến quy hoạch đô thị và gây coi thường pháp luật. Thay vào đó, cần áp dụng các chế tài hành vi lấn chiếm đất một cách quyết liệt, đảm bảo tính răn đe và giáo dục.

Thứ hai, để giải quyết vấn đề biện pháp khắc phục hậu quả lấn đất, cần có hướng dẫn cụ thể về 'tình trạng ban đầu của đất' và các tiêu chí để xác định việc khôi phục. Đối với các trường hợp không thể khôi phục nguyên trạng (như đất lúa đã xây dựng công trình kiên cố), pháp luật cần cân nhắc các biện pháp thay thế như bồi thường chi phí cải tạo hoặc cho thuê đất có thu tiền sử dụng, như đã được áp dụng tại Cần Thơ trong một số trường hợp. Đồng thời, cần bổ sung quy định về kinh phí cưỡng chế thu hồi đất và xử lý tài sản sau cưỡng chế, cùng với việc xác định rõ Hội đồng thực hiện cưỡng chế.

Thứ ba, cần trao đầy đủ thẩm quyền xử phạt lấn đất cho Ủy ban nhân dân cấp xã, bao gồm cả quyền 'buộc trả lại đất đã lấn, chiếm', để tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm lên cấp huyện. Điều này sẽ giúp việc xử phạt lấn đất được thực hiện nhanh chóng, kịp thời hơn tại cơ sở. Cuối cùng, cần quy định rõ cơ quan có chức năng giám sát việc khôi phục tình trạng ban đầu của đất, có thể giao trách nhiệm này cho Ủy ban nhân dân cấp xã với cơ chế báo cáo lên cấp trên, hoặc tăng cường vai trò độc lập của Sở Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ trong việc kiểm tra, giám sát. Những giải pháp nâng cao hiệu quả này sẽ góp phần xây dựng một hệ thống quản lý đất đai minh bạch, công bằng và hiệu quả hơn cho Thành phố Cần Thơ.

V. Kết Luận Tổng Thể Tăng Cường Hiệu Lực Xử Lý Lấn Đất Tại Cần Thơ 60

Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất không chỉ là một hoạt động quản lý nhà nước mà còn là yếu tố then chốt để duy trì trật tự xã hội và bảo vệ tài nguyên đất đai quốc gia. Tại Thành phố Cần Thơ, thực tiễn áp dụng tại Cần Thơ đã cho thấy những nỗ lực đáng kể trong việc triển khai các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chínhNghị định 91/2019/NĐ-CP. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập từ khâu định nghĩa các loại hành vi vi phạm đất đai, xác định rõ ràng giữa lấn đấtchiếm đất, cho đến việc áp dụng mức phạt lấn đất và các biện pháp khắc phục hậu quả lấn đất.

Những thách thức này đã gây ra sự thiếu đồng bộ, làm giảm tính răn đe của pháp luật và ảnh hưởng đến công tác quản lý đất đai. Việc không có quy định cụ thể về đất côngtái lấn chiếm đất, cùng với sự nhập nhằng trong thẩm quyền xử phạt lấn đất và cơ chế giao quyền, đã tạo ra những lỗ hổng pháp lý mà các đối tượng vi phạm có thể lợi dụng. Để tăng cường hiệu lực xử lý lấn đất tại Cần Thơ, cần có một hệ thống giải pháp toàn diện và đồng bộ. Điều này bao gồm việc hoàn thiện các khái niệm pháp lý, điều chỉnh mức phạt lấn đất cho phù hợp với tính chất vi phạm, trao đầy đủ thẩm quyền cho các cấp chính quyền, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả đối với các biện pháp khắc phục hậu quả lấn đất.

Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống quản lý đất đai minh bạch, công bằng, và hiệu quả, góp phần ổn định trật tự xã hội, khuyến khích sử dụng đất đúng mục đích và phát triển bền vững Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hội nhập. Việc khắc phục những hạn chế này không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan chức năng Cần Thơ mà còn cần sự tham gia tích cực từ cộng đồng và sự đồng thuận trong việc tuân thủ quy định pháp luật về đất đai, hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

01/10/2025
Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất từ thực tiễn thành phố cần thơ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HÀNH VI LẤN ĐẤT 1. Khái niệm lấn đất, vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất 1. Khái niệm lấn đất Theo Từ điển Tiếng Việt “lấn” là hành vi “chen vào chỗ khác, mở rộng cả phạm vi một cách bất chính”2 và đất“được xem là tư liệu sản xuất trên bề mặc địa cầu, có người và các loài động vật, thực vật sinh sống”3. Chung quy lại nội hàm “lấn đất” được hiểu là hành vi mở rộng tư liệu sản xuất một cách bất chính của một chủ thể nào đó.

Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ “lấn đất” không được dẫn giải trong Luật Đất đai và các văn bản có liên quan qua các thời kỳ 1987, 1993, 2003. Chỉ đến khi Luật Đất đai năm 2013 ra đời thuật ngữ “lấn đất” bắt đầu manh nha tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 102/2014/NĐ-CP. Theo đó: “Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất”4. Đây được xem là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng nhằm giúp cơ quan thừa hành xác định đích xác hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, khi áp dụng trên thực tế, đã vấp phải nhiều tranh luận khác nhau liên quan đến thuật ngữ này. Bởi lẽ, nếu căn cứ một hành vi người sử dụng đất chủ động chuyển mốc địa giới hoặc ranh giới thửa đất nhằm mở rộng phạm vi là vi phạm chưa thật sự chuẩn xác; giả định hành vi đó nhận được sự đồng thuận từ chính quyền thì chắc rằng khái niệm vừa nêu trên không mang tính chuẩn mực trong mọi trường hợp. Vấn đề đặt ra cần có những hiệu chỉnh kịp thời, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội lúc bấy giờ, sự ra đời của Nghị định 91/2019/NĐ-CP góp phần hoàn thiện hóa liên quan đến thuật ngữ lấn đất tại khoản 1 Điều 3. Theo đó: “Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép”5.

Nhìn chung khái 2 Ngôn ngữ Việt Nam (2014), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Thanh Niên, tr. 4 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 của thủ tướng Chính phủ, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. 5 Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Thủ tướng chính phủ Quy định về về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. 7 niệm này phần nào khắc phục những hạn chế so với văn bản tiền nhiệm trước đó, góp phần giúp cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có những căn cứ tường minh hơn, khi tiến hành xác định hành vi vi phạm.

Dẫu vậy, quá trình áp dụng cho thấy khái niệm “lấn đất” vẫn tồn tại những “điểm mờ” nhất định, khi một số quan điểm cho rằng với khái niệm trên, thì hành vi chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới để mở rộng diện tích đất chỉ cần Nhà nước hoặc người sử dụng đất hợp pháp đồng thuận sẽ không được xem là hành vi lấn đất. Điều này chưa hợp lý, vì lẽ người sử dụng đất hợp pháp suy cho cùng chỉ có quyền sử dụng đất, không được trao năng quyền quyết định mở rộng ranh giới hay thay mặt Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho một chủ thể khác.6 Có ý kiến cho rằng, nếu hành vi chuyển dịch mốc địa giới ranh đất thuộc đất công chịu sự quản lý trực tiếp của Nhà nước, chính quyền địa phương mà chưa nhận được sự đồng thuận từ cơ quan có thẩm quyền, suy ra là hành vi lấn đất. Ở chiều ngược lại, nếu đất trên đã trao quyền sử dụng cho một chủ thể, thì chủ thể khác có hành vi di dời ranh giới nhằm mở rộng thửa đất khi chưa nhận được đồng thuận của người có quyền sử dụng đất thì được xem là hành vi lấn đất.7 Từ đó, cho thấy cách hiểu và vận dụng pháp luật còn nhiều quan điểm trái chiều, khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn cuộc sống. Kế thừa các quan điểm phù hợp về mặt ngữ nghĩa và cả bản chất pháp lý, Tác giả cho rằng khái niệm “lấn đất” cần hiệu chỉnh như sau: “Lấn đất là việc người sử dụng đất tự ý chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất nhằm mở rộng diện tích đất sang phần đất đã được công nhận quyền sử dụng hay diện tích đất do Nhà nước quản lý mà không cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép mở rộng diện tích đất sử dụng”.

Khái niệm vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất Khái niệm “vi phạm hành chính” được khái quát lần đầu tiên tại Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989. Theo đó, “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. 6 Trần Thanh Khỏe- Nguyễn Thành Phương (2021), “Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính với hành vi lấn đất”, Kỷ yếu hội thảo: “Những khía cạnh pháp lý của pháp luật XPVPHC và hướng hoàn thiện”, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 18/9/2021, tr. 7 Nguyễn Thành Phương (2020), “Hoàn thiện các quy định pháp luật về XPVPHC trong lĩnh vực đất đai nhìn từ Nghị định 91/2019-NĐ-CP”, Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn, tập 6 số 6, trang 666.

8 Trần Thanh Khỏe-Nguyễn Thành Phương (2021), “Hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất”, Tạp chí Tòa án Nhân dân, số 13, tr. 8 Quá trình hình thành và phát triển khái niệm này được định nghĩa một cách gián tiếp tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, thông qua khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính”. Cụ thể: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Cho đến Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 nội hàm thuật ngữ “vi phạm hành chính” vẫn chưa được làm rõ khi phải hiểu một cách gián tiếp thông qua khái niệm xử phạt vi phạm hành chính tại khoản 2 Điều 1: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.

Luật XLVPHC năm 2012 ra đời, khái niệm này được quy định một cách tường minh tại khoản 1 Điều 2. Cụ thể: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Phân tích vấn đề, nhận thấy rằng khái niệm vi phạm hành chính thông qua Pháp lệnh năm 1989, 1995, 2002 và Luật XLVPHC năm 2012 tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt, nhìn chung nội hàm đều thống nhất về những dấu hiệu bản chất của loại vi phạm này. Về mặt lý luận khoa học, có học giả cho rằng khái niệm này vẫn tồn tại những điểm chưa thực sự phù hợp, cần có sự hiệu chỉnh kịp thời.

Bởi tại Khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC quy định việc xác định vi phạm hành chính được thực hiện theo phương pháp loại trừ: “Không phải là tội phạm”. Việc định nghĩa theo phương pháp loại trừ để khoanh vùng, đâu là vi phạm hành chính khiến cho việc xác định vi phạm hành chính mất đi tính độc lập, phụ thuộc vào tội phạm, điều này có thể dẫn đến cách hiểu: Hành vi nào không phải là tội phạm được quy định tại Bộ luật hình sự, sẽ là vi phạm hành chính. Nói cách khác, khách thể của vi phạm hành chính và khách thể của tội phạm là một, chỉ khác nhau về mặt tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.9 9 Nguyễn Hoàng Việt, “Hoàn thiện khái niệm vi phạm hành chính trong luật xử lý vi phạm hành chính”, https://stp.vn/hien-thi-noi-dung/-/asset_publisher/wtMnvtGfRUNi/content/hoan-thien-khai- niem-vi-pham-hanh-chinh-trong-luat-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh, truy cập ngày 20/9/2021. 9 Ngoài ra, nhà làm luật cũng “không nên định nghĩa khái niệm của ngành luật này thông qua khái niệm của một ngành luật khác”10.

Nhận thấy, thông qua Pháp lệnh năm 1989, 1995, 2002 cũng như Luật XLVPHC năm 2012 chưa khái quát định nghĩa mang tính lý luận về xử phạt vi phạm hành chính, theo đó chỉ quy định trực tiếp những hình thức, biện pháp thuộc nội hàm của chế định này11. Do vậy, các định nghĩa nêu trên cũng chỉ mang tính chất tương đối. Trên cơ sở phân tích nhà nghiên cứu cho rằng: “Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, do cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước và theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính”.12 Kế thừa những quan điểm phù hợp từ luật định, nhận định của nhà nghiên cứu có thể rút ra khái niệm VPHC đối với hành vi lấn đất như sau: “Vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất là việc cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý, thực hiện hành vi tự ý chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất nhằm mở rộng diện tích đất sang phần đất đã được công nhận quyền sử dụng hay diện tích đất đang do Nhà nước quản lý, xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước và theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính”. Quy định pháp luật về các nhóm hành vi vi phạm hành chính cụ thể về lấn đất Trên cơ sở Chương II Nghị định 91/2019/NĐ-CP phân định thành 06 nhóm hành vi được xem là vi phạm hành chính với hành vi lấn đất, bao gồm: Nhóm thứ nhất: Các hành vi lấn đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ